Tuyên bố chung MDEC - Kiên Giang 2010

Căn cứ vào kế hoạch Diễn đàn Hợp tác kinh tế đồng bằng sông Cửu Long – Kiên Giang 2010 (MDEC Kiên Giang 2010) với chủ đề: “Phát huy lợi thế sông biển phát triển kinh tế bền vững vùng ĐBSCL”. Trong đó tập trung bàn giải pháp phát triển kinh tế du lịch, kinh tế nông nghiệp thích nghi với biến đổi khí hậu tại vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Ngày 25 tháng 6 năm 2010, tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, Hội nghị Ban Chỉ đạo Diễn đàn MDEC Kiên Giang 2010 đã diễn ra với sự tham dự của đại diện lãnh đạo Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, các Bộ ngành liên quan, đại diện lãnh đạo của UBND thành phố Hồ Chí Minh và 13 tỉnh, thành đồng bằng sông Cửu Long.

Sau khi nghe báo cáo kết quả thực hiện Tuyên bố chung Diễn đàn MDEC Cần Thơ 2008, MDEC An Giang 2009 và kết quả các hoạt động đã diễn ra trong khuôn khổ Diễn đàn MDEC Kiên Giang 2010. Hội nghị đã bàn bạc, trao đổi trên tinh thần dân chủ, trách nhiệm và đi đến thống nhất đánh giá, hợp tác triển khai những giải pháp, kiến nghị chung sau đây:

I/- Đánh giá thực trạng, tiềm năng cũng như những nguy cơ dựa trên lợi thế sông, biển mang lại cho ngành kinh tế nông nghiệp và du lịch ĐBSCL:
Diễn đàn thống nhất đánh giá với trên 700km chiều dài bờ biển và trên 28.000km hệ thống sông rạch, ĐBSCL có nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp và du lịch đặc trưng không chỉ trong nước, khu vực mà cả trên thế giới dựa trên lợi thế sông, biển.

Thời gian qua, ngành nông nghiệp ĐBSCL đã có những đóng góp hiệu quả chung cho ngành nông nghiệp và nền kinh tế cả nước. Theo đó, đóng góp 36% giá trị sản xuất nông nghiệp, trên 50% sản lượng lúa, 90% sản lượng gạo xuất khẩu, 65% sản lượng thủy sản, 70% sản lượng trái cây và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Tuy nhiên, tình trạng cơ giới hóa nông nghiệp còn yếu và manh mún, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật còn hạn chế nên năng suất và chất lượng chưa cao, chưa cạnh tranh được với một số nước trong khu vực. Tình trạng phát triển thiếu quy hoạch còn nhiều, sản xuất không ổn định và thiếu bền vững, sâu bệnh, dịch hại ảnh hưởng đến năng suất, vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, sử dụng vật tư nông nghiệp không rõ nguồn gốc, tình hình xâm nhập mặn ... là những nội dung nóng tác động trực tiếp đến người nông dân ĐBSCL.

Khách du lịch đến vùng ĐBSCL gia tăng với nhịp độ đều trên 11%/năm, khách du lịch quốc tế tăng trưởng ở mức 16,4%/năm, khách du lịch nội địa ở mức 11,09%/năm trong giai đoạn 2000 - 2008. Doanh thu từ du lịch tăng ở mức 23,16%/năm; Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật không ngừng được mở rộng và nâng cao, bước đầu đáp ứng nhu cầu lưu trú của lượng khách du lịch đến vùng ngày một tăng. Nhưng do điều kiện tự nhiên và lịch sử tương đối đồng nhất, nên các tài nguyên có nhiều đặc tính chung, từ đó sản phẩm du lịch của vùng bị trùng lắp, khó khăn trong việc thu hút khách và giữ khách, đồng thời nảy sinh những hiện tượng cạnh tranh nội bộ dẫn tới giảm hiệu quả kinh doanh du lịch và ảnh hướng tới hình ảnh, cũng như chất lượng sản phẩm du lịch nói chung. Mặc khác, dù tốc độ tăng trưởng về lượng khách du lịch và thu nhập du lịch khu vực tương đối cao nhưng tỉ trọng so với cả nước còn thấp, chưa được cải thiện và chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế so sánh. Hệ thống kết cấu hạ tầng, đặc biệt là giao thông, trong đó có giao thông thủy phục vụ du lịch còn yếu kém. Chất lượng của lực lượng lao động du lịch vùng đồng bằng sông Cửu Long còn nhiều bất cập. Liên kết, hợp tác giữa các địa phương trong vùng và với TP.Hồ Chí Minh còn nhiều hạn chế.

Diễn đàn cũng đã thống nhất đánh giá và nhận thức ĐBSCL là nơi có cao trình mặt đất tương đối thấp; quá trình biến đổi khí hậu và nước biển dâng sẽ có khả năng ảnh hưởng trực tiếp vào vùng; gây tác động đến môi trường tự nhiên và kinh tế - xã hội. Do vậy, để tiếp tục phát huy lợi thế sông, biển và những thành tựu kinh tế của vùng ĐBSCL; việc nghiên cứu, đưa ra các giải pháp ứng phó, thích nghi với quá trình biến đổi khí hậu và nước biển dâng một cách đồng bộ giữa các địa phương trong vùng với các Bộ ngành TW là nhiệm vụ bức bách không thể chậm trễ hiện nay tại vùng ĐBSCL.   

II/- Các giải pháp hợp tác triển khai giữa các Bộ, ngành và các tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL:
1/- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thống nhất phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương và các tỉnh, thành trong vùng và thành phố Hồ Chí Minh:
1.1. Sớm trình quy hoạch phát triển kinh tế xã hội vùng ĐBSCL, có lồng ghép các yếu tố tác động của các kịch bản nước biển dâng và BĐKH tới từng địa phương. Xây dựng quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn đến năm 2020 và đưa vào kế hoạch của toàn ngành về đầu tư phát triển.

1.2. Thực hiện các chính sách đầu tư và tập trung thu hút đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng sản xuất, dự án cơ giới hóa, giảm tổn thất sau thu hoạch, chế biến, bảo quản nông sản hàng hóa; chính sách bình ổn giá đầu vào, đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp. Nghiên cứu đề xuất chính sách mới về trồng và quản lý bền vững hệ thống rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất; thực hiện tu bổ, củng cố và xây dựng các công trình phòng chống thiên tai.

1.3. Đẩy mạnh liên kết, hợp tác phát triển thủy sản, lĩnh vực mà các địa phương ven biển trong vùng còn nhiều tiềm năng. Nghiên cứu đề xuất “Quy hoạch và mặt nước nuôi trồng thủy sản (cá da trơn, cá đồng, tôm,... nước mặn, nước ngọt) theo hướng phát triển ổn định bền vững bảo vệ tốt môi trường đầu tư.

1.4. Bằng chức năng và quyền hạn quản lý nhà nước thực hiện đồng bộ các nội dung: (1) Xây dựng chính sách ưu tiên cho học sinh theo học ngành nông nghiệp và đội ngũ giáo viên đang giảng dạy tại các trường khối nông nghiệp; (2) Mở rộng bậc đào tạo cao đẳng khối nông nghiệp, đào tạo ra các kỹ sư thực hành đủ sức để giải quyết các vấn đề kinh tế, kỹ thuật đối với thực tiễn sản xuất ở cơ sở vùng ĐBSCL.

1.5. Đề xuất Chính phủ dành nguồn lực hỗ trợ cho việc đầu tư nghiên cứu, ứng dụng công nghệ môi trường, công nghệ sinh học, nhất là công nghệ về giống để đáp ứng kịp thời phục vụ sản xuất nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng vùng ĐBSCL.

2/- Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch thống nhất hợp tác với các tỉnh, thành vùng ĐBSCL và TP Hồ Chí Minh:
2.1. Tích cực triển khai nhanh Đề án đã phê duyệt về phát triển du lịch ĐBSCL đến 2020; trong quá trình triển khai sẽ bổ sung mạnh hơn nội dung phát triển du lịch tàu biển và sông, đặc biệt du lịch bằng du thuyền. Xây dựng một chiến lược tổng hợp cho việc hợp tác phát triển du lịch biển đảo và sông giữa: Việt Nam – Campuchia – Lào; Việt Nam – Thái lan – Campuchia, trong đó lấy ĐBSCL và TP. Hồ Chí Minh làm trọng tâm.

2.2. Đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư và quảng bá du lịch bằng nhiều hình thức. Tổ chức bình chọn điểm du lịch, tour du lịch tốt nhất hàng năm. Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch hỗ trợ kinh phí cho Hiệp hội du lịch ĐBSCL xây dựng trang web chuyên ngành quảng bá du lịch cho vùng.

2.3. Nghiên cứu hợp tác hình thành một Tổng Công ty du lịch mang tầm khu vực và quốc gia đủ tiềm lực khai thác hiệu quả và có trách nhiệm với tiềm năng du lịch vùng ĐBSCL.

2.4. Phối hợp với Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, các tỉnh thành ĐBSCL và TP.Hồ Chí Minh nghiên cứu cơ chế liên kết phát triển du lịch cụ thể có tính pháp lý cao để triển khai thực hiện. Thành lập “Ban điều phối liên kết phát triển du lịch ĐBSCL”, trong đó, Tổng cục Du lịch thuộc Bộ Văn hóa và TT & DL đảm nhận trách nhiệm Trưởng ban điều phối, thành viên là đại diện lãnh đạo Sở VH – TT & DL TP.Hồ Chí Minh và 13 tỉnh thành ĐBSCL, Hiệp hội Du lịch Đồng bằng sông Cửu Long, Ban thư ký Diễn đàn Hợp tác kinh tế đồng bằng sông Cửu Long, một số doanh nghiệp du lịch tiêu biểu của vùng để thực hiện các nội dung liên kết. Thường trực BCĐ Tây Nam Bộ phối hợp với Bộ Văn hóa TT&DL trong việc chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc hoạt động của ban Điều phối.

3/- Bộ Tài Nguyên và Môi trường thống nhất hợp tác với các Bộ, Ngành Trung ương và các tỉnh, thành triển khai:
3.1. Xây dựng chương trình hành động cộng đồng ĐBSCL ứng phó với BĐKH và nước biển dâng (NBD). Chương trình nhằm giảm tác động mạnh tới cộng đồng người nghèo, không đủ khả năng để vực lại những thiệt hại do BĐKH và nguy cơ NBD gây ra. Phối hợp với các cơ quan chức năng nghiên cứu xây dựng và áp dụng các cơ chế bảo hiểm thích hợp để giúp người dân tham gia nhằm giảm những rủi ro.

3.2. Đưa nội dung ảnh hưởng của BĐKH và NBD tại ĐBSCL vào thành cuộc họp thường niên; nhằm đánh giá kịp thời và hiệu quả các giải pháp theo từng giai đoạn, từ đó đề xuất các giải pháp bổ sung kịp thời. Thường xuyên theo dõi chặt chẽ tình hình nguồn nước cả về số lượng và chất lượng, bảo đảm nguồn nước cho sự phát triển bền vững của vùng ĐBSCL. Kịp thời đề xuất các giải pháp xử lý chủ động và thích hợp trước các tình huống bất lợi, vì quyền lợi quốc gia và khu vực ĐBSCL.

3.3. Tăng cường hợp tác quốc tế, tranh thủ các quỹ tài chính quốc tế để nghiên cứu và chuyển giao công nghệ xử lý môi trường, mở rộng thị trường công nghệ môi trường ở ĐBSCL đảm bảo sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội và thích nghi với quá trình biến đổi khí hậu ở khu vực ĐBSCL.

4/- Các tỉnh, thành vùng ĐBSCL thống nhất hợp tác triển khai:
4.1. Xác định Du lịch là một ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của địa phương và khu vực Tây Nam bộ. Trong đó, đặc biệt chú trọng phát triển du lịch bền vững gắn với bảo vệ môi trường và cộng đồng; lấy biển - đảo và sông làm lợi thế cạnh tranh và xây dựng chiến lược phát triển. Tập trung thống nhất trong chỉ đạo, tập trung vốn đầu tư có trọng tâm, trọng điểm và xây dựng các cơ chế chính sách khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư phát triển du lịch.

4.2. Phối hợp bảo vệ cảnh quan, môi trường và xử lý tốt rác thải trên các dòng sông. Tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và người dân về tầm quan trọng của việc phát triển du lịch biển, đảo và sông vùng ĐBSCL và nâng cao trách nhiệm trong công tác bảo vệ môi trường sông biển phục vụ phát triển du lịch. Đầu tư duy tu các di tích lịch sử văn hóa, các nét đẹp về phong tục tập quán tốt và các làng nghề truyền thống  ... để tạo sự khác biệt trong các tour, tuyến và sản phẩm du lịch, góp phần xóa đói giảm nghèo trong cộng đồng dân cư thông qua hoạt động du lịch.

4.3. Phối hợp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức sản xuất nông nghiệp theo hướng cơ cấu mùa vụ, lịch thời vụ và cơ cấu cây trồng; vật nuôi, thủy sản, tập trung vào các sản phẩm chủ lực, thực hiện quản lý khai thác sử dụng nước theo mùa vụ, thời vụ sản xuất ..., bảo đảm lợi ích trong sử dụng nguồn nước kể cả mùa lũ và mùa hạn giữa các tỉnh đầu nguồn và cuối nguồn.

5/- Diễn đàn thống nhất kiến nghị Chính phủ:
5.1. Kiến nghị chính phủ sớm phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội vùng ĐBSCL đến năm 2020” (Bộ KH&ĐT đang trình Thủ tướng Chính phủ). Trên cơ sở đó chỉ đạo các Bộ, ngành chức năng và UBND các tỉnh, thành trong vùng triển khai xây dựng, rà soát, điều chỉnh và bổ sung các quy hoạch tổng KT-XH của các tỉnh, thành phù hợp với bối cảnh mới và chuyển đổi cơ cấu kinh tế chung của vùng, rà soát các quy hoạch chi tiết, các chương trình, dự án đầu tư trong từng kế hoạch 5 năm (2011 – 2015) và hằng năm của từng tỉnh, thành.

5.2. Kiến nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp các Bộ, ban ngành Trung ương và UBND các địa phương trong vùng xây dựng, trình Thủ tướng Chính Phủ ban hành cơ chế pháp lý cụ thể để tạo điều kiện triển khai chủ trương liên kết vùng ĐBSCL trong các lĩnh vực, trước mắt là trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn, liên kết vùng trong phát triển du lịch, trong lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật... nhằm tạo hành lang pháp lý để chỉ đạo điều hành và tổ chức thực hiện việc liên kết vùng ĐBSCL thật sự có hiệu quả (tương tự như chủ trương liên kết vùng trên lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn theo Công văn số 740/VPCP-KTN ngày 01/2/2010 của Văn phòng Chính phủ truyền đạt ý kiến của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng) nhằm phát huy đúng mức tiềm năng, lợi thế của vùng, nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm hàng hóa xuất khẩu, tạo ra sản phẩm hàng hóa số lượng lớn, thương hiệu mạnh của vùng ĐBSCL. Trong đó sẽ tập trung liên kết vào một số lĩnh vực chủ yếu như:
a. Mở rộng hợp tác liên kết giữa các tỉnh, thành vùng ĐBSCL với vùng Đông Nam Bộ, đặc biệt là với TP.HCM. Liên kết giữa các tỉnh, thành vùng ĐBSCL để mở rộng quan hệ hợp tác thương mại-du lịch qua biên giới Campuchia – Thái Lan và các nước trong khu vực. Phát triển khu kinh tế cửa khẩu giữa các địa phương giáp Campuchia.

b. Tăng cường hợp tác liên kết giữa các tỉnh, thành vùng ĐBSCl với nhau, phát huy tốt vai trò của các tỉnh, thành vùng kinh tế trọng điểm nhằm tạo ra tiếng nói chung và thế mạnh của vùng như:
- Liên kết hợp tác để phát triển nông nghiệp toàn diện, nhất là nông nghiệp kỹ thuật cao, liên kết hợp tác xây dựng vùng nguyên liệu tập trung (lúa gạo, cá tra, basa, tôm, trái cây…). Liên kết hợp tác để mở rộng thị trường tiêu thụ, xuất khẩu…
- Liên kết hợp tác để xây dựng các cơ chế chính sách ưu đãi đầu tư đặc thù riêng của vùng, của từng tiểu vùng từng tỉnh, thành để thu hút đầu tư vào ĐBSCL nhằm tránh vượt rào, cạnh tranh không lành mạnh và không cần thiết giữa các tỉnh, thành trong vùng.
- Liên kết, hợp tác trong quy hoạch và đầu tư phát triển các khu công nghiệp tập trung, xây dựng phát triển công nghiệp chế biến nhằm tránh tình trạng lúc thừa năng lực chế biến, hoặt thiếu nguyên liệu, lao động. Xây dựng các chợ đầu mối theo ngành hàng với quy mô vùng.
- Liên kết, phối hợp tuyên truyền quảng bá du lịch thế mạnh của vùng, hình thành các tua du lịch liên kết vùng giữa các tỉnh, thành với nhau, nhằm khai thác lợi thế so sánh và đặc thù riêng của mỗi địa phương.
- Liên kết vùng để hợp tác khai thác, sử dụng nguồn nước sông MêKong, bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên nước, trong đó chú trọng phát triển nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và hạn chế tác hại lũ lụt, ngăn mặn, bảo vệ môi trường…

5.3. Trên cơ sở cơ chế chính sách để thực hiện quy hoạch tổng thể về KT-XH của toàn vùng. Đề nghị Chính phủ bổ sung cơ chế chính sách cụ thể cho từng ngành trong quy hoạch ngành gắn với cơ chế chính sách đặc thù đối với ĐBSCL mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang dự thảo theo Công văn số 2408/VPCP-KTN ngày 15/4/2009 của Văn phòng Chính phủ truyền đạt ý kiến của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải.

5.4. Chính phủ sớm đàm phán với các nước trong khu vực có vùng biển chồng lấn ở vùng biển Tây Nam ký thỏa thuận hợp tác đánh bắt thủy sản trong vùng biển giáp ranh, tạo điều kiện giúp ngư dân yên tâm khai thác hải sản và giữ vững an ninh vùng biển.

III/- Các chương trình hợp tác xúc tiến năm 2011:
Diễn đàn thống nhất tiếp tục theo dõi và thực hiện những nội dung, chương trình xúc tiến đã đề ra năm 2008 và 2009. Trong năm 2011, chương trình hợp tác xúc tiến tập trung triển khai các hoạt động sau:
1/ Tổ chức Hội thảo xúc tiến đầu tư du lịch ĐBSCL – TP.HCM vào tháng 6 năm 2011 tại thành phố Hồ Chí Minh. Chủ trì: Bộ Kế hoạch Đầu tư. Thực hiện: Cục xúc tiến đầu tư và Ban thư ký Diễn đàn. Kinh phí: xúc tiến đầu tư quốc gia.

2/ Tổ chức đòan khảo sát học tập kinh nghiệm xúc tiến tại Thái Lan và Malaysia vào tháng 1 năm 2011. Chủ trì: Bộ Công Thương. Thực hiện: Cục xúc tiến Thương mại. Kinh phí: Xúc tiến Thương mại quốc gia.

3/ Tổ chức đào tạo kỷ năng xúc tiến cho cán bộ xúc tiến ĐBSCL. Chủ trì: Bộ Công Thương. Thực hiện: Trung tâm xúc tiến đầu tư và thương mại TP.Hồ Chí Minh. Kinh phí: Xúc tiến thương mại và đóng góp của các địa phương.

4/ Tham gia gian hàng chung tại Hội chợ du lịch Bezlin của Đức vào tháng 3 năm 2011. Chủ trì: Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch. Thực hiện: Tổng Cục du lịch và Ban thư ký Diễn đàn.

5/ Tổ chức Diễn đàn đầu tư Nông nghiệp ĐBSCL – TP.HCM theo đề xuất của TP.HCM. Chủ trì: Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Thực hiện: Cục đầu tư nước ngoài, Ban thư ký Diễn đàn và Trung tâm xúc tiến thương mại, đầu tư TP.HCM. Kinh phí: Từ nguồn xúc tiến đầu tư quốc gia và đóng góp các địa phương. Thời gian: Có kế hoạch sau.
* Các kiến nghị khác:
Hội nghị thống nhất hai năm một lần tổ chức Tuần lễ đồng bằng sông Cửu Long tại TP.HCM.

IV/- Chủ đề và địa phương đăng cai năm 2011:
- Hội nghị thống nhất giao cho tỉnh Cà Mau là địa phương đăng cai tổ chức Diễn đàn năm 2011.
- Chủ đề: ĐBSCL, liên kết vì sự phát triển bền vững.
Giao cho tỉnh Cà Mau phối hợp với Ban thư ký Diễn đàn xây dựng các hoạt động trong khuôn khổ của Diễn đàn MDEC Cà Mau 2011.

V/- Những nội dung khác :
1/ Các nội dung theo chủ đề trong Tuyên bố chung là những giải pháp lớn cần phối hợp với nhiều Bộ, ngành, các cơ quan liên quan. Việc triển khai các giải pháp cần có thời gian thực hiện. Giao cho Ban thư ký chủ động tham mưu cho Thường trực Ban chỉ đạo Tây Nam bộ và Ban chỉ đạo chỉ đạo Diễn đàn phối hợp các Bộ, ngành, các địa phương và các đơn vị liên quan triển khai thực hiện.

2/ Các Bộ, ngành và địa phương trong Ban chỉ đạo Diễn đàn cần nêu cao hơn nữa trách nhiệm thành viên của mình và xem đây là nội dung quan trọng trong kiên kết vùng; phổ biến, phân công cán bộ theo dõi và phối hợp Ban thư ký triển khai thực hiện nghiêm túc các chương trình nội dung theo Tuyên bố chung hàng năm.

3/ Theo quyết định 388/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm 2010 và quyết định 1354/QĐ – TTg ngày 02-8-2010 của Thủ tướng Chính phủ, kinh phí Diễn đàn được giao Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, Bộ Công thương, Bộ kế hoạch và Đầu tư  bố trí kinh phí từ nguồn xúc tiến thương mại, đầu tư và du lịch quốc gia hằng năm để tổ chức thực hiện, đề nghị Bộ tài chính chủ động phối hợp bố trí kinh phí từ đầu năm để ban chỉ đạo Diễn đàn chủ động triển khai thực thực hiện.

Thứ hai, ngày 24/7/2017

 

         - 14 giờ, đồng chí Sơn Minh Thắng thăm một số gia đình thương binh liệt sĩ tại phường Phú Thứ, mời đại diện Vụ Văn hóa-Xã hội, Vụ An ninh-Quốc phòng, Văn phòng Ban tham gia Đoàn.

         - Các đồng chí Nguyễn Quốc Việt, Nguyễn Trung Hiếu làm việc tại cơ quan.

         - Đồng chí Trần Minh Thống dự Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Ngân hàng Ngoại thương Kiên Giang; điểm tại tỉnh Kiên Giang.

         - 13 giờ 30, đồng chí Trần Hữu Hiệp dự họp Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hậu Giang; điểm tại phòng họp số 3 Tỉnh ủy Hậu Giang.

Thứ ba, ngày 25/7/2017

 

         - 16 giờ, các đồng chí phó trưởng ban, lãnh đạo các vụ, lãnh đạo Văn phòng Ban họp mặt nhân Ngày Thương binh liệt sĩ 27/7; điểm tại phòng họp số 33, Văn phòng Ban.

         - 5 giờ 45, đồng chí Nguyễn Quốc Việt viếng Nghĩa trang liệt sĩ và tượng đài Bác Hồ tại thành phố Cần Thơ, mời đại diện đoàn viên Chi đoàn cùng tham gia.       

Thứ tư, ngày 26/7/2017

 

         - Đồng chí Sơn Minh Thắng dự Hội thảo góp ý Đề án “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” trình Hội nghị Trung ương 6; điểm tại TP  Hồ Chí Minh.

         - Đồng chí Nguyễn Quốc Việt làm việc tại cơ quan.

         - 8 giờ, đồng chí Nguyễn Trung Hiếu, Trần Hữu Hiệp làm việc với Công ty Vân Phong, mời lãnh đạo Vụ Kinh tế, Văn phòng Ban cùng dự; điểm tại phòng họp số 33, Văn phòng Ban.

         - Đồng chí Trần Minh Thống đi khảo sát và nắm tình hình dân tộc, tôn giáo tại huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, mời Vụ Dân tộc-Tôn giáo, đại diện Vụ An ninh-Quốc phòng tham gia Đoàn (có kế hoạch riêng, thời gian đến ngày 29/7/2017).

         - 7 giờ 30, lãnh đạo Vụ An ninh-Quốc phòng dự Hội nghị Tỉnh ủy Đồng Tháp lần thứ 08, khóa X; điểm tại Hội trường Tỉnh ủy Đồng Tháp.

Thứ năm, ngày 27/7/2017

 

          - Các đồng chí Sơn Minh Thắng, Nguyễn Quốc Việt, Nguyễn Trung Hiếu làm việc tại cơ quan.

Thứ sáu, ngày 28/7/2017

 

         - 8 giờ, các đồng chí phó trưởng ban, ủy viên chuyên trách họp sơ kết công tác 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2017 của Tổ Công tác Phú Quốc, mời thành viên Tổ Công tác, Bộ phận giúp việc cùng dự; điểm tại Nhà khách Tây Nam Bộ.

         - 14 giờ, họp giao ban tuần; điểm tại phòng họp số 33, Văn phòng Ban.

         - 14 giờ, lãnh đạo Vụ Dân tộc-Tôn giáo dự Hội nghị Ban Chỉ đạo-Ban Tổ chức Ngày hội văn hóa, thể thao, và du lịch đồng bào Khmer Nam bộ lần thứ VII năm 2017; điểm tại Hội trường UBND tỉnh Bạc Liêu.

số người truy cậpsố người truy cậpsố người truy cậpsố người truy cậpsố người truy cậpsố người truy cậpsố người truy cập
số người truy cậpHôm nay220
số người truy cậpHôm qua283
số người truy cậpTuần này503
số người truy cậpTháng này7328
số người truy cậpTất cả584683