Thông tin kinh tế - xã hội năm 2014

Tình hình kinh tế - xã hội vùng Tây Nam Bộ năm 2014

(Phục vụ báo chí tại Hội nghị Tổng kết năm 2014 của Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, Ngày 24 tháng 12 năm 2014 tại TP. Cần Thơ)

I. TÌNH HÌNH NĂM 2014:

Năm 2014, diễn ra nhiều sự kiện quan trọng của đất nước, là năm các địa phương chuẩn bị đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, tập trung rà soát, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch 05 năm giai đoạn 2011 - 2015, xây dựng kế hoạch giai đoạn 2016 – 2020. Tình hình chính trị thế giới diễn biến phức tạp, đặc biệt là vụ việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trái phép trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của nước ta làm ảnh hưởng đến tình hình kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng trong vùng. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo nhất quán của Đảng, sự điều hành năng động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương, các doanh nghiệp và nhân dân trong vùng, tình hình kinh tế xã hội ĐBSCL tiếp tục phát triển ổn định, một số chỉ tiêu tăng trưởng khá so với cùng kỳ; quốc phòng an ninh được giữ vững, tăng cường, không để xảy ra những tình huống bất ngờ, khó kiểm soát. Một số kết quả đạt được như sau:

1. Về kinh tế:

a) Tốc độ tăng trưởng kinh tế: ước đạt 8,98% (kế hoạch từ 9 - 10%). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, nông-lâm-ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn (khu vực I chiếm 32,3%; khu vực II chiếm 26,2%; khu vực III chiếm 41,5%). Thu nhập bình quân đầu người ước đạt gần 38 triệu đồng/người/năm.  

b) Sản xuất nông nghiệp:

Sản lượng lúa ước đạt 25 triệu tấn, tăng khoảng 500 ngàn tấn so cùng kỳ. Tính đến 26/12/2014, đã xuất khẩu được 06 triệu tấn gạo, giá trị đạt 2,65 tỷ USD (giảm 4,5% về sản lượng, 2,8% về giá trị so cùng kỳ). Diện tích mía ước đạt 56,6 ngàn ha, sản lượng ước đạt 05 triệu tấn. Toàn vùng có 10 nhà máy đường, đến nay đã ép được 3,4 triệu tấn mía, giảm 233 ngàn tấn so cùng kỳ, sản lượng đường đạt 298 ngàn tấn, giảm 08 ngàn tấn so cùng kỳ.

Tổng sản lượng thủy sản đạt gần 3,2 triệu tấn, riêng sản lượng nuôi trồng ước trên 2,1 triệu tấn. Diện tích nuôi tôm nước lợ 414,3 ngàn ha (chiếm 63,9% cả nước), sản lượng đạt 448,9 ngàn tấn (chiếm 78,93% cả nước). Xu hướng nuôi tôm quản canh đang giảm dần, tăng hình thức nuôi bán thâm canh và thâm canh, trong đó tỷ lệ diện tích thả nuôi tôm thẻ chân trắng tiếp tục tăng. Nuôi cá tra diện tích ước đạt gần 4,7 ngàn ha, đến nay đã thu hoạch được hơn 3,3 ngàn ha, sản lượng đạt trên 800 ngàn tấn (giảm 5,3% về diện tích và 8,7% về sản lượng).

Chăn nuôi: quy mô chăn nuôi của vùng còn nhỏ lẻ, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, sau khi dịch bệnh xảy ra tốc độ tái đàn chậm do tâm lý lo ngại dịch bệnh và thị trường bấp bênh, mặt khác người nuôi khó tiếp cận nguồn vốn vay để tái đàn. Cụ thể tổng đàn heo đạt khoảng 3,6 triệu con, chiếm 13,6% cả nước; đàn gia cầm 58,7 triệu con, chiếm 18,65% cả nước; đàn bò đạt gần 644 ngàn con.  

Về tổ chức sản xuất nông nghiệp, toàn vùng có khoảng 1.195 hợp tác xã, chiếm 11,5% cả nước (trong đó hợp tác xã nông nghiệp 936, lâm nghiệp 12, thủy sản 242, diêm nghiệp 5); 15.862 tổ hợp tác, chiếm 25% cả nước; 6.719 trang trại, chiếm 25% cả nước.

c) Giá trị sản xuất công nghiệp: ước tăng 12,9% so với cùng kỳ. Hiện nay, toàn vùng có 53 cụm công nghiệp đã đi vào hoạt động, với tổng diện tích 3.470 ha, thu hút được khoảng 390 doanh nghiệp đầu tư vào cụm, tỷ lệ lấp đầy diện tích bình quân khoảng 76%, tạo việc làm cho khoảng 65.000 lao động.

d) Hoạt động xuất, nhập khẩu: kim ngạch xuất khẩu ước đạt 12,3 tỷ USD, tăng 15,87% so cùng kỳ. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là thủy sản [1], gạo, thực phẩm chế biến, dệt may, giày dép, hàng thủ công mỹ nghệ. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt hơn 5,3 tỷ USD, giảm 33,4% so với cùng kỳ. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là phân bón, sắt thép, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất.

đ) Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ: ước đạt 557 ngàn tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng ngành dịch vụ ước tăng 11%; thu hút khoảng 19 triệu lượt khách du lịch đến vùng ĐBSCL, tăng hơn 10% so cùng kỳ. Trong năm, đã có 11 chợ được xây mới, nâng tổng số chợ trong vùng lên 1.797 chợ.

e) Về tài chính, tín dụng: thu ngân sách ước đạt 37.963,5 tỷ đồng, bằng 98% so với dự toán. Trong đó, thu nội địa là 33.925,5 tỷ đồng, bằng 96% so với dự toán; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu là 4.038 tỷ đồng, tăng 18% so với dự toán. Tổng chi ngân sách ước đạt 68.754 tỷ đồng, đạt chỉ tiêu dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển là 7.699,7 tỷ đồng; ngoài ra Bộ Tài chính đã cấp bổ sung 4.404 tỷ đồng để thực hiện các chế độ chính sách theo quy định. Về hoạt động tín dụng, huy động vốn toàn vùng ước đạt 286.845 tỷ đồng, tăng 21,8% so cùng kỳ; tổng dư nợ ước đạt 343.463 tỷ đồng, tăng 12,4%, trong đó tỷ lệ nợ xấu từ 3 - 3,5%.

g) Tổng vốn đầu tư toàn xã hội: ước đạt trên 238,3 ngàn tỷ đồng, tăng 10,8% so với cùng kỳ, đạt 100,5% kế hoạch (kèm phụ lục tiến độ thực hiện một số công trình, dự án cụ thể).

2. Văn hóa - xã hội:

a) Về giáo dục - đào tạo:

Toàn vùng có 6.773 trường mầm non, phổ thông; trong đó có 1.522 trường học đạt chuẩn quốc gia, chiếm hơn 22,5% trên tổng số trường, tăng 0,8% so với năm học trước. Số lượng trung tâm giáo dục thường xuyên (GDTX) của vùng được giữ ổn định với 134 trung tâm [2]. Hiện nay, trong vùng có 42 trường đại học, cao đẳng và 30 trường trung cấp chuyên nghiệp. Quy mô sinh viên hệ chính quy trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn gồm: 72.516 sinh viên đại học chính quy, 42.237 sinh viên cao đẳng chính quy và 41.251 học sinh trung cấp chuyên nghiệp chính quy, số sinh viên/vạn dân là 169 sinh viên. Quy mô đào tạo sau đại học là 4.260 học viên (trong đó 4.026 cao học và 234 nghiên cứu sinh).

Về đào tạo theo hệ cử tuyển: theo kế hoạch đăng ký cử tuyển năm học 2014-2015 của các địa phương, có 6/13 tỉnh của vùng có đăng ký chỉ tiêu cử tuyển. Số lượng chỉ tiêu học sinh các dân tộc của vùng được cử tuyển vào các trường đại học, cao đẳng là 413 chỉ tiêu (chia theo trình độ: 393 đại học, 20 cao đẳng). Trong đó, khối ngành y, dược là 137 chỉ tiêu, chiếm 47,9% tổng chỉ tiêu của vùng.

b) Đào tạo nghề: toàn vùng có 181 cơ sở dạy nghề [3], tăng 5 cơ sở so với năm 2013. Trong đó có: 13 trường cao đẳng nghề, 39 trường trung cấp nghề, 129 trung tâm giáo dục thường xuyên. Còn 2 tỉnh (Trà Vinh, Cà Mau) chưa có trường cao đẳng nghề trên địa bàn. Năm 2014, tổng kinh phí ngân sách trung ương hỗ trợ dự án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn 108,3 tỷ đồng, dự án Đổi mới và phát triển dạy nghề 58,5 tỷ đồng. Đến nay, đã có 93.476 lao động nông thôn được hỗ trợ học nghề theo Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, so với năm 2013 giảm hơn 30% số người, đạt 75% kế hoạch.

c) Chăm sóc sức khỏe nhân dân: đã có những biến chuyển tích cực, đạt được những kết quả quan trọng [4]. Mạng lưới y tế cơ sở được duy trì, củng cố và phát triển, nhiều trạm y tế được xây mới hoặc nâng cấp. Công tác giải ngân vốn Chương trình mục tiêu Quốc gia được thực hiện đúng tiến độ [5]. Qua đó đã góp phần cải thiện và nâng cao sức khỏe của người dân. Hoạt động y tế dự phòng được tăng cường, giám sát dịch chặt chẽ, khống chế và dập dịch kịp thời, ứng phó được các vấn đề sức khỏe liên quan đến thiên tai, dịch bệnh.

d) Về phát triển thị trường lao động - việc làm, chính sách giảm nghèo và bảo trợ xã hội, ưu đãi người có công:

Trong năm, toàn vùng tạo việc làm mới cho khoảng 330 ngàn lao động, bằng 103% so với năm trước. Hầu hết các địa phương đều đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch do tích cực đẩy mạnh các hoạt động giao dịch việc làm nhằm tăng cường kết nối cung cầu, cung cấp lao động cho các địa phương có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất tại vùng Đông Nam Bộ. Công tác đưa người đi làm việc tại nước ngoài đạt một số kết quả nhất định, với gần 2.500 người được đưa đi lao động (thấp hơn so với các khu vực khác trong cả nước), tập trung chủ yếu ở các thị trường Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và các nước Trung Đông.

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, năm 2014 ngân sách trung ương đã hỗ trợ cho vùng 302,5 tỷ đồng. Chương trình tín dụng chính sách cho vay ước đạt 22.150 tỷ đồng, với hơn 1,6 triệu người đang được vay vốn. Các địa phương tập trung huy động nguồn lực từ cộng đồng, ủng hộ người nghèo, hỗ trợ phương tiện, công cụ sản xuất giúp hộ nghèo phát triển sản xuất, tăng thu nhập… Ước năm 2014, tỷ lệ hộ nghèo toàn vùng giảm còn khoảng 5,6 – 5,8% (năm 2013 là 7,41%).

Số đối tượng thụ hưởng chính sách trợ giúp xã hội khoảng trên 437 ngàn người, tăng 35% so năm 2013 do mở rộng phạm vi đối tượng theo quy định của Luật người cao tuổi, Luật người khuyết tật. Các địa phương thực hiện chính sách trợ cấp hàng tháng cho đối tượng bảo trợ xã hội mức thấp nhất là 180 ngàn/người/tháng; chăm sóc, nuôi dưỡng tập trung trong cơ sở bảo trợ xã hội với mức thấp nhất là 360 ngàn/người/tháng (tuy nhiên nhiều địa phương nâng mức trợ cấp cao hơn mức tối thiểu trên). Việc thực hiện chính sách người có công luôn được quan tâm, đời sống vật chất, tinh thần không ngừng được cải thiện [6], trong năm các địa phương được cấp 4.303 tỷ đồng, thực hiện đầy đủ, kịp thời chính sách cho 213.455 đối tượng.

3. Công tác dân tộc - tôn giáo:

a) Công tác dân tộc:

Các chính sách dân tộc được sự quan tâm, hướng dẫn thực hiện kịp thời [7]. Công tác giáo dục trong đồng bào dân tộc được các địa phương tiếp tục quan tâm [8]. Năm học 2013 - 2014, có trên 221.000 học sinh người dân tộc thiểu số các cấp học, tăng trên 2.000 học sinh, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên là người dân tộc được nâng lên về số lượng và chất lượng [9]. Riêng trường Bổ túc Văn hóa Pali Trung cấp Nam Bộ tại Sóc Trăng đã tuyển sinh mới 60 tăng sinh, trường Trung cấp Pali tại Trà Vinh vừa thành lập, đã tuyển sinh được 31 học viên.

Chính sách y tế và công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số luôn được quan tâm. Nhìn chung, các chính sách, chương trình, dự án tiếp tục phát huy tác dụng, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số từng bước được nâng lên [10]. Đến nay, vùng ĐBSCL có 8/9 đài phát thanh - truyền hình cấp tỉnh có chương trình tiếng Khmer, bình quân chương trình phát sóng từ 30 - 60 phút, riêng tỉnh Hậu Giang phát sóng 15 phút/ngày.

b) Tình hình trong tôn giáo: các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng tuân thủ pháp luật được Nhà nước tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi để các tín đồ sinh hoạt đạo, việc bổ nhiệm, thuyết giảng, đăng ký thành phần nhân sự, thuyên chuyển nhân sự, xây dựng, trùng tu các hạng mục cơ sở thờ tự… đều thông qua chính quyền địa phương. Các tổ chức Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước, Hội người Hoa, Ban Đại diện cộng đồng Hồi giáo Chăm có nhiều đóng góp trong thực hiện chính sách tôn giáo và xây dựng mối đại đoàn kết dân tộc. Các hội đã chủ động phối hợp với chính quyền địa phương hướng dẫn tổ chức các lễ hội tôn giáo, dân tộc đảm bảo an toàn, đúng với phong tục tập quán và nghi thức truyền thống.

4. Công tác xây dựng hệ thống chính trị:

Các địa phương trong vùng quan tâm chỉ đạo nâng cao chất lượng việc học tập, triển khai, quán triệt và tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương, đồng thời tổ chức sơ, tổng kết đạt yêu cầu [11]. Thực hiện Chỉ thị 36-CT/TW của Bộ Chính trị, các địa phương đã xây dựng và triển khai kế hoạch chỉ đạo tổ chức đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2015 - 2020; lãnh đạo các cấp ủy tổ chức đại hội điểm; rà soát bổ sung quy hoạch nhân sự vào ban thường vụ, ban chấp hành Đảng bộ các cấp đảm bảo yêu cầu về tiêu chuẩn, cơ cấu theo quy định; tổ chức lấy ý kiến xây dựng kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2016 - 2020 của địa phương. Triển khai lấy phiếu tín nhiệm đối với cán bộ theo Quy định số 262-QĐ/TW của Bộ Chính trị; Quyết định số 217-QĐ/TW của Bộ Chính trị về quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trật Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội và Quyết định số 218-QĐ/TW về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền...

Công tác xây dựng Đảng được chú trọng thực hiện tốt. Đến nay, toàn vùng có 8.317 tổ chức cơ sở Đảng, với 512.504 đảng viên (trong đó có 147.114 nữ, 18.917 là người dân tộc thiểu số; trong năm đã kết nạp mới được 30.271 đảng viên). Hội đồng nhân dân tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động và rà soát, đôn đốc các ngành chức năng giải quyết các kiến nghị của cử tri kịp thời. Hệ thống dân vận, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể thực hiện tốt công tác tuyên truyền, nắm bắt kịp thời tình hình dư luận và các vấn đề liên quan đến đời sống, quyền lợi của người dân.

6. Một số hoạt động trọng tâm của Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ:

Trong năm 2014, Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ ngoài những nhiệm vụ thường xuyên, đã chủ động giải quyết những vấn đề đột xuất nổi lên của vùng. Một số công việc trọng tâm như sau:

- Đôn đốc việc triển khai thực hiện các nghị quyết, quyết định, chủ trương của Đảng và Nhà nước. Chủ động nắm tình hình, góp ý và chỉ đạo giải quyết những vấn đề khó khăn, vướng mắc nổi lên trên địa bàn. Tham gia cùng các đoàn công tác của Trung ương đến làm việc với các địa phương, góp phần tháo gỡ những khó khăn cho các tỉnh, thành trong vùng.

- Thường xuyên phối hợp chặt chẽ và định kỳ tổ chức giao ban an ninh - quốc phòng của vùng với cấp ủy Đảng và các lực lượng để trao đổi thông tin, xây dựng phương án, kế hoạch đảm bảo an ninh, quốc phòng, không để xảy ra tình huống bất ngờ, khó kiểm soát, góp phần giữ vững ổn định quốc phòng, an ninh trên địa bàn.

- Công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế: được tăng cường, nhằm giới thiệu, quảng bá, xúc tiến đầu tư, thương mại, đặc biệt là quan hệ với các nước có thế mạnh, nhu cầu đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp, ứng phó với biến đổi khí hậu. Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ đã phối hợp với Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản và Ủy ban Hợp tác Mê Kông Nhật Bản tổ chức cho 26 doanh nghiệp thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản đến khảo sát, tìm hiểu cơ hội đầu tư tại vùng ĐBSCL (Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ đã ký kết bản ghi nhớ hợp tác với Phòng Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản). Tổ chức đoàn công tác tại Italia và Áo nghiên cứu về chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong nông nghiệp, đặc biệt là nuôi trồng thủy hải sản nước mặn; khảo sát, nghiên cứu các mô hình, cơ chế chính sách tại Singapore và Malaysia để hoàn thiện Đề án xây dựng Đặc khu Kinh tế Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (trong chuyến công tác Đoàn đã phối hợp Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia mời các doanh nghiệp của Bạn sang vùng ĐBSCL tìm hiểu, hợp tác xúc tiến đầu tư); tham gia, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương trong vùng tổ chức các đoàn xúc tiến đầu tư, thương mại trong lĩnh vực nông nghiệp tại Nhật Bản.

- Công tác đào tạo nguồn nhân lực được quan tâm, tổ chức thực hiện đạt kết quả tích cực, góp phần nâng cao trình độ dân trí cho vùng ĐBSCL. Trong năm, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ đã đề nghị và được Bộ Giáo dục và Đào tạo đồng ý cho các trường đại học mở lớp với 2.814 chỉ tiêu đại học (trong đó có 853 chỉ tiêu xét tuyển theo chính sách đặc thù, 1.569 chỉ tiêu đào tạo theo địa chỉ sử dụng), 1.080 chỉ tiêu thạc sĩ. Về đào tạo lý luận chính trị, đã phối hợp với Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chi Minh mở 02 lớp cao cấp lý luận chính trị với 207 chỉ tiêu đào tạo cho vùng ĐBSCL.  

- Công tác an sinh xã hội và thực hiện chính sách xã hội được Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ quan tâm, vận động xã hội hóa thực hiện nhiều hoạt động có ý nghĩa thiết thực. Trong dịp Tết Nguyên đán, đã tổ chức trao quà Tết cho các gia đình chính sách, các hộ nghèo, công nhân lao động nghèo, lực lượng vũ trang nơi biên giới, hải đảo với tổng số tiền trên 1,6 tỷ đồng, đồng thời tổ chức chương trình “Tết nghĩa tình” trao 450 phần quà với giá trị 225 triệu đồng. Phối hợp với Tỉnh ủy, UBND tỉnh Đồng Tháp tổ chức chương trình “Nghĩa tình biên giới, biển đảo quê hương”, cùng các địa phương trong vùng vận động được trên 107 tỷ đồng hỗ trợ cho cán bộ, chiến sĩ, người dân có hoàn cảnh khó khăn nơi biên giới, hải đảo. Tại MDEC Sóc Trăng 2014, đã tổ chức tôn vinh các đơn vị hỗ trợ quỹ an sinh xã hội vùng ĐBSCL với số tiền hơn 480 tỷ đồng, trong đó tổ chức khởi công xây dựng Bệnh viện đa khoa huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, với số tiền 120 tỷ đồng (giai đoạn 2014 - 2016 ngành ngân hàng hỗ trợ 50 tỷ đồng).

- Công tác dân tộc, tôn giáo được quan tâm, nhiều hoạt động ý nghĩa, thiết thực được tổ chức góp phần bảo tồn và phát huy nét văn hóa đặc sắc và tăng cường đoàn kết trong đồng bào dân tộc, tôn giáo trong vùng như: phối hợp Ban Dân vận Trung ương tổ chức tọa đàm về tổ chức và hoạt động của Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước trong Phật giáo Nam tông Khmer - Thực trạng và giải pháp; phối hợp Ủy ban Dân tộc tổ chức Hội thi tìm hiểu pháp luật trong đồng bào dân tộc Khmer vùng Tây Nam Bộ; tuyên truyền trong đồng bào dân tộc, tôn giáo; tham gia đoàn công tác của Ủy ban Dân tộc khảo sát xây dựng chính sách đặc thù hỗ trợ mô hình phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ. Tổ chức họp mặt Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây, thành lập Đoàn thăm, chúc mừng lễ hội Sene Đônta, Ok-Om-Bok của đồng bào dân tộc Khmer; Đại lễ Haji của đồng bào dân tộc Chăm; Lễ Noel của đạo Công giáo.

- Tổ chức thành công Diễn đàn hợp tác kinh tế ĐBSCL năm 2014 với chủ đề "Tái cơ cấu nông nghiệp - Xây dựng nông thôn mới vùng ĐBSCL" (diễn ra từ ngày 05 - 07/11/2014 tại tỉnh Sóc Trăng). Thông qua Diễn đàn, đã tập hợp được nhiều sáng kiến, giải pháp để thực hiện Đề án tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, gắn với xây dựng nông thôn mới vùng ĐBSCL (có báo cáo riêng). 

- Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương tổ chức nhiều cuộc hội nghị, hội thảo nhằm tập hợp sáng kiến, đề xuất cơ chế chính sách phát triển vùng. Trong đó, nổi bật là việc phối hợp Văn phòng Chính phủ tổ chức Hội nghị về sản xuất và tiêu thụ lúa gạo vùng ĐBSCL (do Thủ tướng Chính phủ chủ trì); Hội nghị xúc tiến mở các đường bay đến Tp. Cần Thơ; Hội thảo khoa học “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ĐBSCL - 30 năm nhìn lại”; Hội nghị nâng cao hiệu quả vận tải thủy nội địa và kết nối các phương thức vận tải khu vực ĐBSCL; Hội thảo “Liên kết vùng ĐBSCL trong tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng”; Hội nghị đánh giá tình hình thực hiện chính sách về lao động, việc làm tại ĐBSCL; tổ chức khảo sát và chuẩn bị tổ chức Hội nghị tổng kết 03 năm thực hiện Đề án nâng cao chất lượng tín dụng chính sách xã hội vùng ĐBSCL; Hội thảo quốc tế giới thiệu tiềm năng hợp tác giữa các doanh nghiệp Nhật Bản và vùng ĐBSCL…

* ĐÁNH GIÁ CHUNG:

Năm 2014, tình hình kinh tế - xã hội của vùng ĐBSCL tiếp tục phát triển ổn định, hầu hết các ngành, lĩnh vực đều duy trì tốc độ tăng trưởng so cùng kỳ. Lãi suất huy động của ngân hàng giảm, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh; chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp, giá cả thị trường được quản lý, kiểm soát tốt, không xảy ra những đợt tăng giá bất ngờ. Các chính sách an sinh xã hội được thực hiện có kết quả, chính sách dân tộc - tôn giáo được quan tâm thực hiện kịp thời. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, quốc phòng - an ninh được củng cố, tăng cường; các vụ việc phức tạp, đột xuất được chủ động giải quyết có hiệu quả, không để xảy ra các tình huống bất ngờ, khó kiểm soát. Công tác phối hợp giữa Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ với các bộ, ngành trung ương và địa phương ngày càng được tăng cường và đi vào chiều sâu. 

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vùng ĐBSCL vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chưa đạt so với kế hoạch. Các mặt hàng nông sản chủ lực như lúa gạo, cá tra, tôm, cây ăn trái sản xuất thiếu bền vững, còn nhiều rủi ro về giá cả và thị trường tiêu thụ, chưa xây dựng được chiến lược xuất khẩu bền vững. Huy động các nguồn lực xây dựng nông thôn mới còn gặp nhiều khó khăn. Hệ thống giao thông chưa đồng bộ. Sự liên kết giữa các địa phương chưa chặt chẽ và đi vào chiều sâu. Chính sách kêu gọi đầu tư chưa thật sự hấp dẫn, thu hút đầu tư nước ngoài còn thấp, quy mô nhỏ. Thị trường lao động phát triển chưa đồng bộ, chất lượng lao động chưa cao cả về trình độ và kỹ năng nghề nghiệp. Đời sống của người dân nhất là ở vùng nông thôn, đồng bào dân tộc còn nhiều khó khăn, số hộ cận nghèo còn cao, tiềm ẩn nguy cơ tái nghèo lớn. Tội phạm hình sự, đặc biệt là tội phạm ở lứa tuổi thanh thiếu niên xu hướng gia tăng, tình hình an ninh - trật tự xã hội nông thôn ngày càng phức tạp, khiếu kiện đông người, kéo dài chưa được giải quyết dứt điểm. Công tác phối hợp của các bộ, ngành và địa phương từng lúc, từng nơi chưa chặt chẽ, hiệu quả chưa cao. 

II. NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM NĂM 2015:

1. Tình hình chung:

Năm 2015, là năm cuối các địa phương dồn sức thực hiện hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2011 - 2015, dự báo tình hình kinh tế sẽ tiếp tục phục hồi. Các chính sách về tái cơ cấu nền kinh tế, tái cơ cấu ngành nông nghiệp và liên kết trong sản xuất được phát huy, bước đầu mang lại hiệu quả tích cực; lãi suất ngân hàng giảm là điều kiện để các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn, phục hồi sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh thị trường xuất khẩu; xây dựng nông thôn mới bước đầu mang lại hiệu quả thiết thực, đời sống người dân được cải thiện, hạ tầng giao thông tiếp tục được đầu tư, hoàn thiện là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội toàn vùng phát triển nhanh hơn.

Bên cạnh những thuận lợi, vùng ĐBSCL đứng trước nhiều khó khăn, thách thức như: các mặt hàng chiến lược lúa gạo, thủy sản, trái cây thị trường tiêu thụ không ổn định, đặc biệt là đối với xuất khẩu, tính liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ chưa chặt chẽ, dẫn đến đời sống nhân dân còn bấp bênh; diễn biến bất lợi của thời tiết, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng và khó dự báo; việc đào tạo nguồn lao động phục vụ cho sự phát triển của vùng chưa thật sự hiệu quả.

2. Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội phấn đấu thực hiện trong năm 2015:

(1) Tăng trưởng kinh tế (GDP) trên 9,4%. (2) Kim ngạch xuất khẩu đạt trên 13,6 tỷ USD. (3) Thu ngân sách trên 44 ngàn tỷ đồng. (4) Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt trên 262 ngàn tỷ đồng. (5) Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn khoảng 4,5%. (6) Tạo việc làm cho trên 687 ngàn lao động. (7) Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 49%. (8) Tỷ lệ trẻ em dưới 05 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm dưới 11%. (9) Số giường bệnh/1 vạn dân đạt 17 giường bệnh. (10) Tỷ lệ chất thải rắn đô thị được thu gom đạt 86%.

3. Một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu:

Tổ chức tốt đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh, phấn đấu tăng trưởng kinh tế cao hơn, đảm bảo an sinh xã hội. Ưu tiên tập trung xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội để khai thác có hiệu quả tiềm năng và lợi thế của vùng. Tập trung hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Phát triển công nghiệp năng lượng, sinh hóa, công nghiệp chế tác trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp. Tăng cường quốc phòng an ninh, giữ vững chủ quyền, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Tiếp tục phát triển văn hóa xã hội, đào tạo nguồn nhân lực, công tác đào tạo nghề, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng lãng phí. Trên cơ sở những mục tiêu trên, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ đề ra những nhiệm vụ, giải pháp sau:

a) Lĩnh vực kinh tế - xã hội:

Tập trung phát triển những sản phẩm chủ lực của vùng như: lúa gạo, trái cây và thuỷ sản trên cơ sở phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện theo hướng chất lượng cao, gắn sản xuất, chế biến và tiêu thụ đáp ứng nhu cầu thị trường. Gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp với việc tổ chức lại sản xuất, phát triển kinh tế tập thể, tổ hợp tác để xây dựng vùng sản xuất tập trung. Phát triển mô hình "cánh đồng lớn" về lúa sạch, rau sạch, cây ăn quả đủ tiêu chuẩn xuất khẩu. Phối hợp xây dựng quy chế điều phối trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ các sản phẩm chủ lực của vùng ĐBSCL.

Ưu tiên cho đầu tư phát triển công nghiệp chế biến hàng nông, lâm, thuỷ hải sản và công nghiệp cơ khí phục vụ cho sản xuất nông nghiệp; quan tâm đầu tư cho những ngành công nghiệp chế biến mũi nhọn, tạo ra những sản phẩm chủ lực có tính cạnh tranh cao để xuất khẩu và thay thế hàng nhập khẩu.

Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại hỗ trợ cho các địa phương, doanh nghiệp vùng ĐBSCL; duy trì, mở rộng thị trường nội địa và xuất khẩu; tích cực hỗ trợ các địa phương tổ chức các hội chợ triển lãm, đặc biệt là việc hỗ trợ vận động doanh nghiệp tham gia các hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại trong và ngoài nước.

Tập trung xây dựng các công trình trọng điểm về giao thông, thủy lợi của vùng. Củng cố, nâng cao chất lượng phương tiện vận tải cả đường bộ, đường thủy và hàng không, đảm bảo vận chuyển hàng hóa, hành khách trên địa bàn. Đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng hạ tầng đảo Phú Quốc theo Quyết định 178/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Phối hợp hoàn thành Đề án thành lập Đặc khu kinh tế Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang tạo sức bậc trong phát triển Phú Quốc.

Phát triển du lịch đặc thù của vùng ĐBSCL, tạo ra nhiều mô hình mới, gắn du lịch sinh thái với thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hoá dân tộc và hiện đại. Phát triển du lịch biển, đảo, trong đó tập trung xây dựng phát triển du lịch đảo Phú Quốc. Phối hợp với các bộ, ngành và địa phương tổ chức “Tuần lễ du lịch xanh ĐBSCL năm 2015” tại thành phố Cần Thơ.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và công tác đào tạo nghề, phấn đấu nâng cao trình độ dân trí của vùng tiến kịp mặt bằng chung của cả nước, tạo việc làm ổn định và thu nhập tương xứng. Chú trọng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tiếp tục triển khai các chương trình y tế quốc gia, tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh. Đẩy mạnh xã hội hoá trong lĩnh vực y tế, giáo dục - đào tạo, dạy nghề, có cơ chế, chính sách thông thoáng khuyến khích các thành phần kinh tế cùng tham gia. Phối hợp tổ chức sơ kết 5 năm thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg và sơ kết tình hình thực hiện Quyết định 1033/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng tránh thiên tai và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Tiếp tục đầu tư, triển khai các dự án ứng phó với biến biển khí hậu trong vùng, nhất là các dự án trồng, phục hồi rừng ngập mặn, bảo vệ nguồn nước, thúc đẩy đa dạng sinh học. Thường xuyên cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu và theo dõi diễn biến bất thường của thời tiết, dịch bệnh, thiên tai, bão lũ, kế hoạch ứng phó biến đổi khí hậu, nước biển dâng và tác động từ thượng nguồn sông Mê Công. Phối hợp tổ chức Hội thảo tham vấn Kế hoạch ĐBSCL (MDP) do các chuyên gia Hà Lan thực hiện.

b) Lĩnh vực dân tộc - tôn giáo:

Theo dõi, nắm tình hình triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với lĩnh vực dân tộc, tôn giáo. Tổ chức tuyên truyền trong vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo. Họp mặt nhân dịp Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây của đồng bào dân tộc Khmer. Thăm hỏi, tặng quà các chức sắc, cơ sở tôn giáo nhân các dịp lễ của các tôn giáo. Phối hợp chỉ đạo nâng cao chất lượng hoạt động của các đoàn nghệ thuật Khmer, chương trình phát thanh, truyền hình tiếng Khmer trên sóng VTV Cần Thơ, VOV và các tờ báo tiếng Khmer trong vùng.

Tăng mức đầu tư, hỗ trợ đối với chính sách xóa đói, giảm nghèo và các chính sách đang triển khai trong vùng dân tộc thiểu số. Các địa phương rà soát, sắp xếp, tuyển dụng sinh viên dân tộc trong hệ thống chính trị các cấp, từng bước đạt tới mức tương ứng với tỷ lệ dân số của dân tộc thiểu số.

Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chính sách dân tộc tôn giáo trong vùng, trong đó tập trung thực hiện Chương trình 135 (giai đoạn 3), Quyết định 102/2009/QĐ-TTg, Quyết định 29/2013/QĐ-TTg, Quyết định 551/QĐ-TTg, Quyết định 755/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tiếp tục triển khai việc cấp một số ấn phẩm báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn theo Quyết định 2472/QĐ-TTg và Quyết định 1977/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ theo đúng quy định.

Phối hợp Ban Dân vận Trung ương tổ chức khảo sát kinh nghiệm về công tác vận động tu sỹ, chức sắc, chức việc trong đạo Công giáo trên địa bàn Tây Nam Bộ. Phối hợp Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức hội nghị tổng kết công tác tuyên truyền trong vùng đồng bào dân tộc - tôn giáo giai đoạn 2011 – 2015, xây dựng kế hoạch, đề cương tuyên truyền cho giai đoạn tiếp theo.

d) Lĩnh vực xây dựng hệ thống chính trị:

Tiếp tục theo dõi tình hình triển khai, quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI); Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 30/5/2014 của Bộ Chính trị “Về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”; Quyết định số 244-QĐ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương về Quy chế bầu cử trong Đảng; thông qua đề cương chi tiết văn kiện đại hội Đảng bộ tỉnh, thành phố nhiệm kỳ 2015 - 2020 và các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước…

Phối hợp Bộ Nội vụ và các bộ, ngành có liên quan xây dựng Đề án đào tạo, bồi dưỡng và tạo nguồn đội ngũ cán bộ hệ thống chính trị cơ sở địa bàn có đông đồng bào dân tộc Khmer, biên giới, hải đảo. Phối hợp Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh theo dõi, quản lý Lớp cao cấp lý luận chính trị hệ tại chức Tây Nam Bộ khóa II (2014 - 2016).

III. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ:

1. Kiến nghị Thủ tướng Chính phủ:

Chỉ đạo các bộ, ngành ưu tiên thực hiện các dự án do trung ương quản lý có tính kết nối liên vùng, tạo động lực phát triển vùng theo quy hoạch, kế hoạch phát triển đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt như: Đường cao tốc đoạn Trung Lương - Mỹ Thuận; Mỹ Thuận - Cần Thơ; dự án luồng cho tàu biển có trọng tải lớn vào sông Hậu qua kênh Quan Chánh Bố (kênh Trà Vinh); duy trì triển khai nạo vét, duy tu luồng Định An hàng năm; xúc tiến việc triển khai đầu tư tuyến đường sắt TP. Hồ Chí Minh - Cần Thơ.

2. Các bộ, ngành trung ương:

a) Bộ Kế hoạch và Đầu tư:

- Đôn đốc các bộ, ngành và địa phương thực hiện Quyết định số 2270/QĐ-TTg ngày 21/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ theo chức năng, nhiệm vụ của đơn vị.

- Chủ trì, phối hợp với Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ và các bộ, ngành, địa phương lập danh mục các dự án ưu tiên đầu tư của vùng ĐBSCL trình Thủ tướng Chính phủ.

- Bố trí ưu tiên các nguồn vốn cho vùng ĐBSCL triển khai thực hiện Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản đến năm 2020 theo Quyết định 332/QĐ-TTg ngày 03/3/2011; Đề án sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng ĐBSCL theo Quyết định 2033/QĐ-TTg ngày 04/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ và các dự án trọng điểm phục vụ nông nghiệp, nông thôn nhằm phát huy hiệu quả Đề án tái cơ cấu nông nghiệp.

- Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương có liên quan rà soát, đề nghị Chính phủ sửa đổi Nghị định 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên cơ sở phù hợp với tình hình thực tế, tạo điều kiện tốt hơn để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này.

- Hoàn chỉnh, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thí điểm liên kết vùng ĐBSCL giai đoạn 2014 - 2019, nhằm tạo ra cơ sở pháp lý, tăng cường mối liên kết trong phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương trong vùng.

b) Bộ Giáo dục và Đào tạo: phối hợp với các bộ, ngành tổ chức hội thảo chuyên đề về dạy và học tiếng Khmer, tiếng Hoa để có cơ sở điều chỉnh, cải tiến, nâng cao, đảm bảo tính pháp lý và khoa học; đồng thời nghiên cứu biên soạn chương trình dạy tiếng Chăm (theo Hồi giáo) theo tinh thần Nghị định số 82/2010/QĐ-CP, ngày 15/7/2010 của Chính phủ quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên. Chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội tổ chức hội nghị sơ kết tình hình thực hiện Quyết định 1033/QĐ-TTg ngày 30/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ.

c) Bộ Lao động Thương binh và Xã hội : chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan tổ chức hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg, ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”.

d) Bộ Ngoại giao: xúc tiến đàm phán với Campuchia ký kết Hiệp định về cửa khẩu và quản lý cửa khẩu, đồng thời sớm ban hành Thông tư hướng dẫn về trình tự, thủ tục mở và nâng cấp cửa khẩu để thống nhất triển khai thực hiện Quyết định số 1490/QĐ-TTg, ngày 26/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển hệ thống cửa khẩu biên giới đất liền Việt Nam-Campuchia đến năm 2020.

đ) Bộ Quốc phòng: phối hợp các địa phương triển khai xây dựng đường tuần tra biên giới từ nguồn kinh phí đã được Quốc hội phê duyệt, chú ý trong thiết kế và xây dựng quan tâm đến vấn đề kiểm soát và thoát lũ.

e) Các địa phương trong vùng:

- Phối hợp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn rà soát quy hoạch vùng sản xuất cá da trơn theo Nghị định 36/2014/NĐ-CP ngày 29/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ;

- Các địa phương có biên giới giáp Campuchia phối hợp Bộ Quốc phòng rà soát, lập kế hoạch và tổ chức xây dựng các công trình phòng thủ, chốt phòng thủ khu vực biên giới, báo cáo Thủ tướng Chính phủ những khó khăn, vướng mắc và những vấn đề vượt thẩm quyền.

- Phối hợp với Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, UBND thành phố Cần Thơ và các bộ, ngành có liên quan tổ chức tốt “Tuần lễ du lịch xanh đồng ĐBSCL năm 2015”./.

BAN CHỈ ĐẠO TÂY NAM BỘ

File download: tại đây

 


[1] Xuất khẩu thủy sản ước đạt trên 6,5 tỷ USD, tăng 23,7%; trong đó xuất khẩu tôm tăng 42,3%, cá tra tăng 0,2%.

[2] 08 địa phương có trung tâm giáo dục thường xuyên phủ kín cấp huyện gồm: An Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Long An, Hậu Giang, Đồng Tháp, Cà Mau và TP. Cần Thơ.

[3] So với mục tiêu tại Quyết định số 1033/QĐ-TTg ngày 30/06/2011 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề vùng ĐBSCL giai đoạn 2011-2015 thì số trường cao đẳng nghề đã đạt 59,09% mục tiêu toàn vùng (13/22 trường), số trường trung cấp nghề vượt mức so với mục tiêu 11,4 % (39/35 trường) và đã có 109/131 đơn vị hành chính cấp huyện có trung tâm dạy nghề.

[4] Trạm y tế xã có bác sỹ đạt 84,90% (trung bình cả nước là 76,95%); xã đạt chuẩn quốc gia về y tế (giai đoạn 2011-2020) đạt 56,40% (trung bình cả nước là 52,20%); Tỷ lệ suy dinh dưỡng 13,9 (trung bình của cả nước 15,3%). Một số chỉ tiêu còn thấp so với trung bình của cả nước như: Tỷ lệ bác sỹ/vạn dân mới đạt 5,1% (trung bình cả nước 7,5%); Tỷ lệ giường bệnh/vạn dân mới đạt 17,7% (mức trung bình cả nước  23,8%).

[5] Trong năm, tổng kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia về y tế Trung ương phân bổ cho vùng là 16,64 tỷ đồng; vốn trái phiếu Chính phủ theo Quyết định 930/QĐ-TTg ngày 30/6/2009 của Thủ tướng Chính Phủ là 8.157 tỷ đồng; vốn trai phiếu Chính phủ theo Quyết định số 47 đã phân bổ đến hết năm 2014 là 4.533,157 tỷ đồng (đạt 67%); vốn ODA gần 18,79 triệu USD.

[6] 100% bà mẹ Việt Nam Anh hùng còn sống được phụng dưỡng, trên 97% hộ gia đình chính sách người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống bình quân nơi cư trú, 98% xã, phường được công nhận làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ, người có công…

[7] Chương trình 135 giai đoạn III triển khai trên 350 công trình và nhiều dự án với kinh phí trên 164,94 tỷ đồng; hoàn thành và đưa vào sử dụng 150 công trình, giải ngân trên 110 tỷ đồng, đạt 60% kế hoạch. Quyết định 102/QĐ-TTg triển khai thực hiện với kinh phí trên 41,73 tỷ đồng cho trên 365.000 lượt người hộ nghèo ở vùng khó khăn, đạt trên 50% vốn kế hoạch.

[8] Hiện trong vùng có 28 trường Phổ thông dân tộc nội trú (09 trường tỉnh và 19 trường huyện) và 03 trường Phổ thông dân tộc bán trú. Chất lượng dạy và học được nâng lên, tỷ lệ thí sinh trúng tuyển vào đại học, cao đẳ

Các bài viết cùng chuyên mục
Thứ hai, ngày 24/7/2017

 

         - 14 giờ, đồng chí Sơn Minh Thắng thăm một số gia đình thương binh liệt sĩ tại phường Phú Thứ, mời đại diện Vụ Văn hóa-Xã hội, Vụ An ninh-Quốc phòng, Văn phòng Ban tham gia Đoàn.

         - Các đồng chí Nguyễn Quốc Việt, Nguyễn Trung Hiếu làm việc tại cơ quan.

         - Đồng chí Trần Minh Thống dự Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Ngân hàng Ngoại thương Kiên Giang; điểm tại tỉnh Kiên Giang.

         - 13 giờ 30, đồng chí Trần Hữu Hiệp dự họp Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hậu Giang; điểm tại phòng họp số 3 Tỉnh ủy Hậu Giang.

Thứ ba, ngày 25/7/2017

 

         - 16 giờ, các đồng chí phó trưởng ban, lãnh đạo các vụ, lãnh đạo Văn phòng Ban họp mặt nhân Ngày Thương binh liệt sĩ 27/7; điểm tại phòng họp số 33, Văn phòng Ban.

         - 5 giờ 45, đồng chí Nguyễn Quốc Việt viếng Nghĩa trang liệt sĩ và tượng đài Bác Hồ tại thành phố Cần Thơ, mời đại diện đoàn viên Chi đoàn cùng tham gia.       

Thứ tư, ngày 26/7/2017

 

         - Đồng chí Sơn Minh Thắng dự Hội thảo góp ý Đề án “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” trình Hội nghị Trung ương 6; điểm tại TP  Hồ Chí Minh.

         - Đồng chí Nguyễn Quốc Việt làm việc tại cơ quan.

         - 8 giờ, đồng chí Nguyễn Trung Hiếu, Trần Hữu Hiệp làm việc với Công ty Vân Phong, mời lãnh đạo Vụ Kinh tế, Văn phòng Ban cùng dự; điểm tại phòng họp số 33, Văn phòng Ban.

         - Đồng chí Trần Minh Thống đi khảo sát và nắm tình hình dân tộc, tôn giáo tại huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, mời Vụ Dân tộc-Tôn giáo, đại diện Vụ An ninh-Quốc phòng tham gia Đoàn (có kế hoạch riêng, thời gian đến ngày 29/7/2017).

         - 7 giờ 30, lãnh đạo Vụ An ninh-Quốc phòng dự Hội nghị Tỉnh ủy Đồng Tháp lần thứ 08, khóa X; điểm tại Hội trường Tỉnh ủy Đồng Tháp.

Thứ năm, ngày 27/7/2017

 

          - Các đồng chí Sơn Minh Thắng, Nguyễn Quốc Việt, Nguyễn Trung Hiếu làm việc tại cơ quan.

Thứ sáu, ngày 28/7/2017

 

         - 8 giờ, các đồng chí phó trưởng ban, ủy viên chuyên trách họp sơ kết công tác 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2017 của Tổ Công tác Phú Quốc, mời thành viên Tổ Công tác, Bộ phận giúp việc cùng dự; điểm tại Nhà khách Tây Nam Bộ.

         - 14 giờ, họp giao ban tuần; điểm tại phòng họp số 33, Văn phòng Ban.

         - 14 giờ, lãnh đạo Vụ Dân tộc-Tôn giáo dự Hội nghị Ban Chỉ đạo-Ban Tổ chức Ngày hội văn hóa, thể thao, và du lịch đồng bào Khmer Nam bộ lần thứ VII năm 2017; điểm tại Hội trường UBND tỉnh Bạc Liêu.

số người truy cậpsố người truy cậpsố người truy cậpsố người truy cậpsố người truy cậpsố người truy cậpsố người truy cập
số người truy cậpHôm nay133
số người truy cậpHôm qua276
số người truy cậpTuần này713
số người truy cậpTháng này3489
số người truy cậpTất cả611009