Thông tin Kinh tế - xã hôi năm 2015

 

I. TÌNH HÌNH, KẾT QUẢ CÔNG TÁC NĂM 2015

Năm 2015, diễn ra nhiều sự kiện quan trọng của đất nước, là năm các địa phương tổ chức đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu về kinh tế - xã hội 05 năm (giai đoạn 2011-2015), xây dựng kế hoạch giai đoạn 2016-2020. Tình hình chính trị thế giới diễn biến phức tạp, làm ảnh hưởng đến tình hình kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng trong vùng. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành năng động của Chính phủ, nỗ lực của các bộ, ngành Trung ương, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân, tình hình kinh tế - xã hội vùng Tây Nam Bộ năm 2015 tiếp tục phát triển ổn định, một số chỉ tiêu tăng trưởng khá so cùng kỳ; quốc phòng, an ninh được giữ vững, không để xảy ra những tình huống bất ngờ, khó kiểm soát. Một số kết quả đạt được như sau:

1. Về kinh tế:

a) Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) ước đạt 7,8% (đạt 99,4% kế hoạch). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, nông - lâm - ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn (khu vực I chiếm 33,1%, khu vực II chiếm 25,25%, khu vực III chiếm 41,65%). GRDP bình quân đầu người ước đạt 40,27 triệu đồng/người/năm (tăng 2,2 triệu đồng so với năm 2014).

b) Sản xuất nông nghiệp:

Sản lượng lúa ước đạt 25,69 triệu tấn, tăng khoảng 429 nghìn tấn so cùng kỳ[1]. Tính đến ngày 30/11/2015 đã xuất khẩu được 6,24 triệu tấn gạo, giá trị đạt 2,65 tỷ USD (tăng 3,6% về sản lượng, giảm 4,9% về giá trị so cùng kỳ).

Tổng sản lượng thủy sản ước đạt 3,89 triệu tấn, tăng 21,5% so cùng kỳ. Trong đó, sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 1,4 triệu tấn, tăng 27,2% so cùng kỳ; sản lượng thủy sản nuôi trồng gần 2,5 triệu tấn, tăng 15,64% so cùng kỳ. Diện tích và sản lượng nuôi tôm tiếp tục tăng, nhất là tôm thẻ chân trắng do sự đóng góp đáng kể của vụ nuôi thứ 3. Đến nay diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng đạt 59.474 ha, sản lượng 242.975 tấn, chiếm 70% sản lượng tôm thẻ chân trắng của cả nước; diện tích nuôi tôm sú 556.252 ha, chiếm 93% diện tích của cả nước, sản lượng tôm sú đã thu hoạch 228.230 tấn, chiếm 70% tôm sú của cả nước. Diện tích nuôi cá tra ước đạt 5.200 ha, tăng 2,3% so năm 2014, đến nay đã thả nuôi được 4.569 ha, diện tích thu hoạch 3.311 ha, sản lượng đạt hơn 01 triệu tấn.

Chăn nuôi: tổng đàn heo là 3,57 triệu con, chiếm 13% tổng đàn heo của cả nước, sản lượng thịt là 538,75 nghìn tấn; tổng đàn gia cầm là 60,24 triệu con, chiếm 17,8% tổng đàn gia cầm cả nước; đàn bò đạt 713,8 nghìn con, tăng 5,3% so cùng kỳ và chiếm 13% tổng đàn bò cả nước. 

Về tổ chức sản xuất nông nghiệp: toàn vùng có 1.380 hợp tác xã; trong đó, có 06/13 tỉnh, thành có phân loại hợp tác xã với kết quả: 38% hợp tác xã đạt loại khá, 30% đạt loại trung bình; 32% yếu kém và ngừng hoạt động. Về tổ hợp tác nông nghiệp bình quân mỗi tỉnh, thành phố có 1.367 tổ hợp tác nông nghiệp[2], tăng bình quân hàng năm 163 tổ/tỉnh, thành phố; có 6.586 trang trại (giảm 2% so cùng kỳ).

Xây dựng nông thôn mới: năm 2015 ngân sách Trung ương hỗ trợ cho vùng xây dựng nông thôn mới là 42 tỷ đồng. Đến nay, toàn vùng có thị xã Ngã Bảy (tỉnh Hậu Giang) là đơn vị cấp huyện được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới; ước cuối năm 2015 có thêm 03 huyện được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Bình quân mỗi xã đạt 13,48 tiêu chí, trong đó có 233 xã đạt 19 tiêu chí (chiếm 18,49%), 203 xã đạt 15-18 tiêu chí (chiếm 16,11%), 598 xã đạt 10-14 tiêu chí (chiếm 47,46%), 222 xã đạt 5-9 tiêu chí (chiếm 17,62%), 04 xã đạt dưới 5 tiêu chí (chiếm 0,32%).

c) Giá trị sản xuất công nghiệp: đạt 578.586 tỷ đồng, tăng 13,3% so cùng kỳ. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 8,3%. Tình hình sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp trên địa bàn duy trì mức tăng trưởng khá, chất lượng và năng lực cạnh tranh từng bước được cải thiện. Hiện có 52 cụm công nghiệp với tổng diện tích khoảng 1.921 ha đã đi vào hoạt động, thu hút được 536 dự án đầu tư sản xuất kinh doanh, tỷ lệ lấp đầy bình quân 66,7%, góp phần tạo việc làm cho 60.591 lao động.

d) Hoạt động xuất, nhập khẩu: kim ngạch xuất khẩu ước đạt 13,2 tỷ USD, tăng 4,4% so cùng kỳ. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là thủy sản, gạo, thực phẩm chế biến, dệt may, giày dép, hàng thủ công mỹ nghệ. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 5,96 tỷ USD, tăng 6,1% so cùng kỳ. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là phân bón, sắt thép, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất.

đ) Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ: ước đạt 693,1 nghìn tỷ đồng, tăng 14,7% so cùng kỳ. Tình hình lưu chuyển hàng hóa trên thị trường khá sôi động, chương trình đưa hàng Việt về nông thôn, kết nối cung cầu hàng hóa... được tổ chức có hiệu quả. Bên cạnh đó, một số trung tâm thương mại, siêu thị được khánh thành, đi vào hoạt động đã thúc đẩy sản xuất, phát triển thị trường.

e) Về tài chính, tín dụng: thu ngân sách ước đạt 46.744 tỷ đồng, tăng 14,9% so dự toán. Trong đó, thu nội địa là 41.419 tỷ đồng, tăng 15,3% so dự toán; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu là 5.325 tỷ đồng, tăng 11,9% so dự toán. Tổng chi ngân sách ước đạt 77.220 tỷ đồng, tăng 3,1% so dự toán. Trong đó, chi đầu tư phát triển là 9.910 tỷ đồng, tăng 37,6% so dự toán. Ngoài ra, Bộ Tài chính còn cấp bổ sung 5.260 tỷ đồng để thực hiện các chế độ, chính sách theo quy định. Về hoạt động tín dụng, huy động vốn toàn vùng tăng 14,41% so cùng kỳ; tổng dư nợ tăng 12,54%, tỷ lệ nợ xấu khoảng 3% tổng dư nợ cho vay.

g) Tổng vốn đầu tư toàn xã hội: ước đạt 258.687 tỷ đồng, đạt 103,67% kế hoạch. Tình hình triển khai các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông năm 2015 được triển khai tích cực. Đã thực hiện đầu tư 06 dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước với tổng mức đầu tư là 2.600 tỷ đồng; 07 dự án sử dụng nguồn vốn trái phiếu chính phủ với tổng mức đầu tư là 18.072 tỷ đồng; 06 dự án sử dụng vốn ODA với tổng mức đầu tư là 41.226 tỷ đồng. Ngoài ra, còn kêu gọi xã hội hóa và đã hoàn thành 03 dự án với tổng mức đầu tư là 4.973 tỷ đồng, đang triển khai đầu tư 07 dự án theo hình thức BOT với tổng mức đầu tư là 22.762 tỷ đồng, mời gọi đầu tư 11 dự án với tổng mức đầu tư dự kiến là 20.976 tỷ đồng.

2. Văn hóa - xã hội:

a) Về giáo dục - đào tạo:

Toàn vùng có 6.958 trường mầm non và phổ thông[3]. Trong đó, có 1.803 trường đạt chuẩn quốc gia, chiếm 25,91% (tăng 2,72% số trường và tăng 18,46% trường đạt chuẩn). Thành phố Cần Thơ và các tỉnh Bến Tre, Bạc Liêu, Tiền Giang được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non trẻ 05 tuổi. Tất cả các tỉnh, thành trong vùng được công nhận đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi. Giáo dục thường xuyên và chuyên nghiệp có 204 cơ sở; trong đó, có 131 trung tâm giáo dục thường xuyên và 73 cơ sở đào tạo trung cấp chuyên nghiệp, với quy mô 45.248 học viên. Hiện có 43 trường đại học, cao đẳng (gồm 17 trường đại học và 26 trường cao đẳng), quy mô sinh viên chính quy của vùng là 130.896 sinh viên (trong đó đại học là 86.230 sinh viên và cao đẳng là 44.666 sinh viên), tăng 9% so với 05 năm trước đây. Trong năm có 06/13 tỉnh, thành phố của vùng đăng ký chỉ tiêu cử tuyển, số lượng học sinh dân tộc thiểu số được cử tuyển vào các trường đại học, cao đẳng, trung cấp là 299 chỉ tiêu (chia theo trình độ: 271 đại học, 23 cao đẳng, 05 trung cấp). Trong đó, khối ngành y, dược là 149 chỉ tiêu, chiếm 47,9% tổng chỉ tiêu của vùng.

b) Đào tạo nghề: mạng lưới cơ sở dạy nghề tiếp tục được quan tâm đầu tư, phát triển. Toàn vùng có 178 cơ sở dạy nghề, gồm: 17 trường cao đẳng nghề, 35 trường trung cấp nghề và 126 trung tâm dạy nghề. Ngoài ra, còn có 186 cơ sở khác tham gia dạy nghề (gồm các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, trung tâm giới thiệu việc làm, trung tâm giáo dục thường xuyên, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ, các hội nghề nghiệp, đoàn thể, làng nghề...). So với mục tiêu đề ra tại Quyết định số 1033/QĐ-TTg ngày 30/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ thì số trường cao đẳng nghề đạt 78% (17/22 trường), số trường trung cấp nghề đã vượt mục tiêu đề ra (37/35 trường), có 109/131 đơn vị hành chính cấp huyện có trung tâm dạy nghề.

c) Chăm sóc sức khỏe nhân dân: công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân có biến chuyển tích cực, đạt những kết quả quan trọng. Một số chỉ tiêu về y tế của vùng đạt khá so bình quân cả nước như: trạm y tế xã có bác sĩ làm việc đạt 91,4% (cả nước là 82,4%), xã đạt chuẩn quốc gia về y tế đạt 56,4% (cả nước là 52,2%), tỷ suất chết trẻ em dưới 01 tuổi giảm còn 11,6‰ (cả nước 14,9‰), tỷ lệ suy dinh dưỡng (cân/tuổi) giảm còn 13% (cả nước 14,3%), tỷ lệ giường bệnh/vạn dân đạt 26,2 (cả nước 25). Bên cạnh đó, vẫn còn một số chỉ tiêu về y tế còn thấp so bình quân cả nước, đáng lưu ý là tỷ lệ bác sĩ/vạn dân mới đạt 6 (trung bình cả nước 7,6), tỷ lệ dược sĩ/vạn dân đạt 0,8 (cả nước đạt 1,92).

d) Về phát triển thị trường lao động - việc làm, chính sách giảm nghèo và bảo trợ xã hội, ưu đãi người có công:

Toàn vùng tạo việc làm cho khoảng 323,5 nghìn lao động. Hầu hết các địa phương đều thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu về tạo việc làm năm 2015. Các trung tâm dịch vụ việc làm đã tổ chức 120 phiên sàn giao dịch việc làm, với tổng số lao động được tư vấn, giới thiệu việc làm trên 220 nghìn người. Quỹ Quốc gia về việc làm đã hỗ trợ giải quyết việc làm cho 17.382 lao động (tăng 29,6% so cùng kỳ). Tuy nhiên, chất lượng việc làm chưa cao do đối tượng vay vốn chủ yếu là hộ gia đình ở khu vực nông thôn.

Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững: năm 2015 ngân sách Trung ương đã hỗ trợ cho vùng 275,5 tỷ đồng (chiếm 5,84% so tổng vốn cả nước). Trong đó, vốn đầu tư là 191,1 tỷ đồng (chiếm 6,98% tổng vốn cả nước) và vốn sự nghiệp là 84,4 tỷ đồng (chiếm 4,27% tổng vốn cả nước). Ước cuối năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo toàn vùng giảm còn 3,54% (cả nước là 4,5%).

Công tác an sinh xã hội được các địa phương quan tâm thực hiện. Trong năm đã trợ cấp thường xuyên cho gần 500 nghìn người. Hỗ trợ Tết Nguyên đán Ất Mùi năm 2015 cho khoảng 135.000 đối tượng bảo trợ xã hội, gần 82.000 hộ nghèo với kinh phí khoảng 87 tỷ đồng. Hỗ trợ 248,65 tấn gạo, 15,237 tỷ đồng cứu trợ đột xuất. Ngân hàng Chính sách xã hội đã phát vay vốn cho hộ nghèo, gặp khó khăn trong sản xuất với tổng số tiền gần 14.000 tỷ đồng. Ngoài ra, ngành Ngân hàng còn tài trợ kinh phí thực hiện an sinh xã hội cho vùng với số tiền 443 tỷ đồng tập trung vào các lĩnh vực là giáo dục (52,5%), y tế (18,9%) và hỗ trợ hộ nghèo (18,9%). Riêng đối với các chương trình do Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ vận động, ngành Ngân hàng đã tài trợ 143 tỷ đồng.

3. Công tác dân tộc - tôn giáo:

a) Công tác dân tộc:

Các chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước được các tỉnh, thành phố trong vùng quan tâm thực hiện có hiệu quả, đời sống của đồng bào dân tộc Khmer, Chăm và các dân tộc thiểu số khác được cải thiện. Công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc được quan tâm, các giá trị văn hóa tốt đẹp, phong tục tập quán, tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số được giữ gìn và phát huy. Việc tổ chức các lễ, tết truyền thống được tạo điều kiện thuận lợi, các chính sách có liên quan đến đời sống của đồng bào dân tộc, nhất là chính sách về giáo dục luôn được các địa phương triển khai thực hiện tốt, hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú được đầu tư xây dựng, củng cố và phát triển[4]. Đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục được cải thiện, hầu hết hộ đồng bào dân tộc thiểu số có phương tiện nghe nhìn, tỷ lệ hộ có điện sử dụng trên 92%, nhiều nơi đạt 100%, tỷ lệ hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh trên 80%. Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số ước giảm 3-4% so năm 2014 (tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số năm 2014 là 16,27%).

b) Tình hình tôn giáo:

Tình hình tôn giáo cơ bản ổn định, các sinh hoạt tôn giáo, đặc biệt là các lễ trọng trong tôn giáo diễn ra trang nghiêm, đúng quy định pháp luật, đảm bảo an ninh, trật tự. Các địa phương đã thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện để các tôn giáo tổ chức các ngày lễ trọng, đại hội, hội nghị diễn ra trang nghiêm, đảm bảo an ninh trật tự; phối hợp giải quyết các kiến nghị, nhu cầu chính đáng của các tôn giáo. Thông qua các hoạt động thăm, chúc mừng các tổ chức tôn giáo đã tạo sự gần gũi, nắm bắt tình hình, giải quyết được nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh, vận động chức sắc, tín đồ thi đua lao động, sản xuất, gắn bó đồng hành cùng chính quyền địa phương thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

5. Công tác xây dựng hệ thống chính trị:

Toàn vùng có 199 đảng bộ trực thuộc, 8.412 tổ chức cơ sở Đảng với 543.128 đảng viên, đầu năm đến nay đã kết nạp được 21.768 đảng viên. Trong năm, các tỉnh ủy, thành ủy trong vùng triển khai quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 10, 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI). Tổ chức các hoạt động thiết thực, ý nghĩa nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm[5]. Tập trung tuyên truyền về Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Thực hiện Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 30/5/2014 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

Kết quả tổ chức Đại hội Đảng bộ ở các tỉnh, thành phố trong vùng đã bầu 678 ủy viên ban chấp hành. Cán bộ nữ trúng cử vào cấp ủy đạt tỷ lệ bình quân 12,24% (cao nhất là tỉnh Kiên Giang 25%, thấp nhất là tỉnh Long An 3,7%). Cán bộ trẻ (dưới 40 tuổi) trúng cử cấp ủy bình quân đạt 5,9% (tỉnh Trà Vinh không có cấp ủy dưới 40 tuổi). Tổng số ủy viên ban thường vụ được bầu là 198 đồng chí; trong đó, nữ là 18 đồng chí, chiếm 9,09%. Trong 13 đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy có 01 đồng chí là nữ (tỉnh An Giang). Tổng số phó bí thư được bầu là 30 đồng chí; trong đó, có 03 đồng chí nữ. Đồng thời, đại hội đã bầu 214 đại biểu chính thức và 23 đại biểu dự khuyết dự Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng.

Trong năm có 03 thị xã được thành lập mới gồm: thị xã Duyên Hải (tỉnh Trà Vinh), thị xã Long Mỹ (tỉnh Hậu Giang), thị xã Giá Rai (tỉnh Bạc Liêu); đã trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội các đề án: thành lập thành phố Phú Quốc, thành phố Hà Tiên, huyện Sơn Thành thuộc tỉnh Kiên Giang; thành lập 04 phường thuộc thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long; thành lập 03 thị trấn trên địa bàn tỉnh Bến Tre; thành lập 02 thị xã thuộc tỉnh Cà Mau.

6. Một số hoạt động trọng tâm của Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ:

Năm 2015, Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ do Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ giao. Phối hợp giải quyết kịp thời các vấn đề nổi lên của vùng. Một số công việc trọng tâm như sau:

- Đôn đốc việc triển khai thực hiện các nghị quyết, quyết định, chủ trương của Đảng và Nhà nước. Nắm tình hình, góp ý và chỉ đạo giải quyết những vấn đề khó khăn, vướng mắc nổi lên trên địa bàn. Tham gia các đoàn công tác của Trung ương đến làm việc với các địa phương, góp phần tháo gỡ những khó khăn cho các đơn vị về tín dụng chính sách, kinh tế hợp tác, hợp tác xã kiểu mới, tái cơ cấu nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, liên kết vùng… Phối hợp thực hiện Chương trình khoa học công nghệ cấp quốc gia giai đoạn 2014 - 2019 “Khoa học và công nghệ phục vụ phát triển bền vững vùng Tây Nam Bộ”; thực hiện Nghị định số 30/2010/NĐ-CP ngày 29/3/2010 của Chính phủ về huy động nhân lực, tàu thuyền và phương tiện dân sự tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền của các vùng biển của nước ta. Khảo sát, đánh giá Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015 và phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn 2016 - 2020 vùng Tây Nam Bộ.

- Định kỳ tổ chức giao ban an ninh, quốc phòng của vùng với cấp ủy Đảng và các lực lượng để trao đổi thông tin, xây dựng phương án, kế hoạch đảm bảo an ninh, quốc phòng, không để xảy ra tình huống bất ngờ, khó kiểm soát, góp phần giữ vững ổn định quốc phòng, an ninh trên địa bàn.

- Tổ chức nhiều cuộc hội nghị quan trọng như: sơ kết 03 năm thực hiện Đề án củng cố, nâng cao chất lượng tín dụng chính sách khu vực Tây Nam Bộ kết hợp triển khai Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 22/11/2014 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội; Hội nghị sơ kết 03 năm thực hiện chính sách đặc thù đào tạo nguồn nhân lực vùng Tây Nam Bộ; Tọa đàm về việc thành lập các mô hình kinh tế hợp tác, hợp tác xã kiểu mới vùng ĐBSCL; Hội nghị liên tịch giữa Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ và Thường vụ Trung ương Hội hữu nghị Việt Nam - Campuchia về công tác phối hợp giữa 02 đơn vị; Hội nghị giao ban các Ban Chỉ đạo: Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ; Hội nghị sơ kết 06 tháng đầu năm 2015 và triển khai phương hướng, nhiệm vụ công tác 06 tháng cuối năm 2015 của Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ; Hội nghị sơ kết 06 tháng đầu năm 2015 và triển khai nhiệm vụ 06 tháng cuối năm 2015 của Tổ Công tác nghiên cứu cơ chế, chính sách phát triển đảo Phú Quốc; Hội nghị an ninh - quốc phòng tuyến Biên giới Việt Nam - Campuchia địa bàn Tây Nam Bộ; Hội nghị tổng kết 05 năm thực hiện Quyết định số 1033/QĐ-TTg ngày 30/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề vùng ĐBSCL.

- Tổ chức “Tuần lễ du lịch xanh đồng bằng sông Cửu Long năm 2015” diễn ra từ ngày 27/6 - 03/7/2015 tại thành phố Cần Thơ. Chuẩn bị tổ chức MDEC - Hậu Giang 2016 với chủ đề “Đồng bằng sông Cửu Long - Chủ động hội nhập và phát triển bền vững”. Tổ chức Chương trình “Nghĩa tình biên giới, biển đảo quê hương” lần III năm 2015 tại Phú Quốc. Tổ chức các hoạt động an sinh xã hội: thăm, tặng quà nhân dịp Tết Nguyên đán 2015 và Chương trình Tết vì người nghèo với chủ đề “Xuân yêu thương”, Chương trình “Nhớ Xuân chiến khu”. Phối hợp Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo Tây Nam Bộ thực hiện Chương trình trao an sinh xã hội, nhà tình thương, trao học bổng, khám bệnh miễn phí tại các địa phương.

- Tổ chức họp mặt Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây; thăm mừng nhân dịp Sen Đôn Ta, lễ Ok Om Bok năm 2015 của đồng bào dân tộc Khmer; tổng kết công tác tuyên truyền năm 2014, tổ chức các đoàn công tác đến thăm hỏi, chúc mừng và tặng quà Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước, chùa Phật giáo Nam tông Khmer, cán bộ hưu trí, gia đình chính sách, người có uy tín, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn là người dân tộc Khmer tại các tỉnh, thành Tây Nam Bộ; triển khai nhiệm vụ tuyên truyền năm 2015 trong đồng bào dân tộc, tôn giáo vùng Tây Nam Bộ. Thăm mừng nhân dịp lễ ROYA HAJI của đồng bào Chăm theo Hồi giáo.

- Tổ chức đoàn công tác nước ngoài đi Ma Cao và Hồng Kông (Trung Quốc) để học tập kinh nghiệm về cơ chế, chính sách thu hút doanh nghiệp nước ngoài đầu tư, nhằm tìm ra những chính sách phù hợp để phát triển huyện đảo Phú Quốc theo định hướng của Trung ương.

* Đánh giá chung:

Năm 2015, kinh tế - xã hội vùng Tây Nam Bộ tiếp tục có bước phát triển. Các chính sách hỗ trợ của nhà nước, nhất là chính sách hỗ trợ của ngành ngân hàng đã thúc đẩy sản xuất, kinh doanh. Giá cả thị trường được kiểm soát tốt, ổn định; tiêu thụ nông sản được quan tâm, hỗ trợ kịp thời. Các chính sách an sinh xã hội được duy trì thực hiện kịp thời đúng đối tượng. Công tác tổ chức đại hội Đảng các cấp được thực hiện thành công. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, quốc phòng - an ninh được giữ vững. Các vụ việc phức tạp, đột xuất được chủ động giải quyết có hiệu quả. Công tác phối hợp với các bộ, ngành Trung ương và các địa phương để phát triển vùng ĐBSCL của Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ nhận được sự ủng hộ, đồng thuận của các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân.

 Bên cạnh những kết quả đạt được, vùng Tây Nam Bộ vẫn còn một số hạn chế như: giải quyết đầu ra cho nông sản của vùng còn gặp nhiều khó khăn, thiếu ổn định, nhất là đối với 03 sản phẩm chủ lực của vùng là lúa gạo, trái cây và thủy sản. Tái cơ cấu nông nghiệp diễn ra chậm. Huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng nông thôn mới còn nhiều khó khăn, nhất là ở các xã nghèo, đông đồng bào dân tộc thiểu số. Hệ thống kết cấu hạ tầng thủy lợi phục vụ nông nghiệp và đầu tư các công trình ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng còn hạn chế, yếu kém, dẫn đến tình trạng hiện nay một số nơi có nguy cơ thiếu nước sạch để người dân sinh hoạt. Nguồn vốn đầu tư các dự án thích ứng với biến đổi khí hậu còn hạn chế, giải ngân chậm do vốn đối ứng gặp khó khăn, năng lực quản lý tại các dự án chưa cao. Một số cơ chế, chính sách đặc thù về kinh tế hợp tác, liên kết trong nông nghiệp chưa được ban hành. Đời sống của một bộ phận người dân còn nhiều khó khăn.

II. NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM NĂM 2016:

1. Tình hình chung:

Năm 2016 là năm đầu tiên của kế hoạch 05 năm 2016 - 2020, có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo đà tăng trưởng phát triển, bền vững cho cả giai đoạn 2016-2020. Dự báo tình hình kinh tế sẽ tiếp tục phát triển ổn định. Kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, cơ hội tiếp cận thị trường xuất khẩu nhiều hơn, các sản phẩm có lợi thế so sánh sẽ có cơ hội phát triển. Sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị được phát huy, mang lại hiệu quả tích cực. Nhiều chính sách hỗ trợ nông nghiệp của Chính phủ được hoàn thiện. Xây dựng nông thôn mới đạt kết quả. Hạ tầng giao thông được đầu tư, phát huy hiệu quả, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm và ủng hộ vùng ĐBSCL ứng phó biến đổi khí hậu.

Tuy nhiên, dự báo tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, bạo loạn lật đổ, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển đảo vẫn diễn ra ở nhiều quốc gia và khu vực. Tại Campuchia, các đảng phái sẽ tập trung củng cố tổ chức, lôi kéo cử tri chuẩn bị cho cuộc bầu cử xã, phường vào năm 2017 và bầu cử Quốc hội năm 2018. Huy động nguồn vốn đầu tư ngày càng khó khăn. Đặc biệt, việc hình thành cộng đồng ASEAN vào cuối năm 2015 và việc ký kết, triển khai các hiệp định thương mại tự do FTA, Hiệp định TPP sẽ tạo ra những điều kiện quan trọng cho phát triển, nhưng cũng tạo ra những thách thức lớn đối với cộng đồng doanh nghiệp, nhất là việc phát triển thị trường, tăng cường khả năng cạnh tranh ở thị trường quốc tế và ngay trong nội địa. Trong nước diễn ra nhiều sự kiện chính trị trọng đại: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng; bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021. Tình hình kinh tế - xã hội vùng Tây Nam Bộ đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp, tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh ngày càng tăng. Ngành công nghiệp và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao còn yếu. Kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển. Lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật, tay nghề cao còn ít. Một số trạm y tế chưa có bác sĩ, đáng lưu ý là bác sĩ các chuyên ngành phong, lao, tâm thần, pháp y, giải phẫu bệnh của vùng còn thiếu và không có nguồn để tuyển dụng.

2. Một số mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế - xã hội phấn đấu thực hiện trong năm 2016:

Mục tiêu trọng tâm trong năm 2016: Đầu tư cơ sở hạ tầng phát triển nông nghiệp; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; nâng cao khả năng ứng phó biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long; liên kết vùng trong phát triển sản xuất, tiêu thụ lúa gạo, trái cây và thủy sản.

Một số chỉ tiêu kinh tế ước thực hiện trong năm 2016: tổng sản phẩm trong nước (GRDP) tăng khoảng 7,8% so năm 2015. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt 24 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu ước đạt 14,34 tỷ USD. Thu ngân sách là 50.331 tỷ đồng, trong đó thu nội địa là 44.756 tỷ đồng. Chi ngân sách 82.324 tỷ đồng. Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển trên địa bàn dự kiến là 289.072 tỷ đồng.

3. Một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu:

a) Lĩnh vực kinh tế - xã hội:

- Chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Đề án tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đẩy nhanh thực hiện 03 đột phá trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 là: tái cơ cấu đầu tư công; tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước; tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới.

- Đôn đốc, đẩy nhanh triển khai thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Tập trung phát triển công nghệ cao, công nghệ sinh học phục vụ hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp. Phát triển kinh tế tập thể, tổ hợp tác, sản xuất theo chuỗi giá trị gia tăng hướng đến nền nông nghiệp hữu cơ, thích ứng với biến đổi khí hậu. Nhân rộng mô hình liên kết sản xuất lúa, thủy sản, cây ăn quả theo tiêu chuẩn sản xuất sạch.

- Tổ chức các hoạt động trong Diễn đàn hợp tác kinh tế ĐBSCL năm 2016 với chủ đề “Đồng bằng sông Cửu Long - Chủ động hội nhập và phát triển bền vững” tại tỉnh Hậu Giang và Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Tiếp tục thực hiện chính sách đào tạo đặc thù cho vùng. Phối hợp rà soát, kiểm tra chất lượng đào tạo, công tác bố trí, sử dụng nguồn nhân lực. Chỉ đạo thực hiện chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, có chuyên môn, nghiệp vụ. Tiếp tục thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”.

- Phối hợp chỉ đạo nâng cao chất lượng công tác khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế, nhất là tuyến y tế cơ sở. Triển khai có hiệu quả Luật Bảo hiểm y tế, hướng tới bảo hiểm y tế toàn dân. Tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh; phát triển y tế tư nhân và y tế theo hình thức hợp tác công - tư. Quan tâm giáo dục y đức, nâng cao tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ của nhân viên y tế.

- Tiếp tục thực hiện công tác an sinh xã hội, chính sách người có công, chăm sóc Mẹ Việt Nam anh hùng, người nghèo, cận nghèo, khuyết tật, trẻ em mồ côi. Thực hiện Chương trình Nghĩa tình biên giới, biển đảo quê hương lần thứ 4, các chương trình an sinh xã hội nhân dịp lễ, tết. Theo dõi việc các địa phương tổng điều tra, áp dụng phương pháp xác định hộ nghèo giai đoạn 2016 - 2020 theo Quyết định số 1614/QĐ-TTg ngày 15/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ.

- Tiếp tục theo dõi, nắm tình hình thiên tai, sạt lở, xâm nhập mặn, tác động của đập thủy điện trên dòng chính sông Mê Công, kịp thời báo cáo Ủy ban quốc gia về biến đổi khí hậu về diễn biến của biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tăng cường quan hệ quốc tế, tập trung vào các tổ chức: Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức hợp tác phát triển Đức (GIZ), Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA)… tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức quốc tế tìm hiểu, nghiên cứu tác động biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long và hỗ trợ vốn đầu tư các công trình, dự án thích ứng, giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu.

b) Lĩnh vực dân tộc - tôn giáo:

- Đôn đốc các bộ, ngành Trung ương và địa phương triển khai thực hiện tốt các chính sách của Đảng và Nhà nước về dân tộc, tôn giáo. Theo dõi, nắm chặt chẽ tình hình trong đồng bào dân tộc, tôn giáo. Phối hợp chỉ đạo các cơ quan chức năng giải quyết những khó khăn, phản ánh, nguyện vọng chính đáng của đồng bào dân tộc Khmer, Chăm và tín đồ các tôn giáo. Tổ chức tuyên truyền trong vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo năm 2016. Họp mặt nhân dịp Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây của đồng bào dân tộc Khmer. Thăm hỏi, tặng quà các chức sắc, cơ sở tôn giáo nhân các dịp lễ của các tôn giáo. Phối hợp chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục trong các trường dân tộc nội trú, đào tạo và bố trí việc làm cho sinh viên hệ cử tuyển sau khi tốt nghiệp.

- Phối hợp Ủy ban Dân tộc tham mưu, xây dựng kế hoạch tổng kết thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 14/8/2006 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác dân tộc; tổng kết 25 năm thực hiện Chỉ thị số 68/CT-TW ngày 18/4/1991 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer.

c) Lĩnh vực xây dựng hệ thống chính trị:

- Chỉ đạo thực hiện tốt công tác chuẩn bị và tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021. Theo dõi, nắm tình hình các tỉnh, thành trong vùng triển khai thực hiện các chỉ tiêu nghị quyết và những công việc sau Đại hội Đảng như: xây dựng và ban hành quy chế làm việc, chương trình công tác toàn khóa, hàng năm; chương trình kiểm tra, giám sát; sửa đổi, bổ sung quy chế quản lý tổ chức và cán bộ; phân công nhiệm vụ cho cấp ủy viên; thực hiện luân chuyển, điều động cán bộ.

- Phối hợp Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh theo dõi, quản lý lớp Cao cấp lý luận chính trị hệ vừa học vừa làm Tây Nam Bộ khóa II (2014 - 2016).

- Tiếp tục theo dõi tình hình triển khai, quán triệt và tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

III. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ:

1. Kiến nghị Thủ tướng Chính phủ:

- Chỉ đạo các bộ, ngành Trung ương hỗ trợ thông tin về thị trường, những tác động ảnh hưởng và biện pháp thích ứng cho các địa phương trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, đặc biệt là vấn đề tiêu thụ lúa gạo, trái cây, thủy sản khi tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Có chính sách hỗ trợ nhân rộng mô hình cánh đồng lớn, áp dụng công nghệ cao vào sản xuất, nuôi trồng.

- Có cơ chế đặc thù giúp vùng ĐBSCL thích ứng biến đổi khí hậu như: lập quỹ ứng cứu ảnh hưởng do biến đổi khí hậu của vùng; thành lập hội đồng cấp vùng để ứng phó biến đổi khí hậu; hỗ trợ bảo hiểm cho nông dân sản xuất nông nghiệp ở những khu vực dễ bị tổn thương; hỗ trợ kinh phí đối ứng cho các dự án ứng phó biến đổi khí hậu được các tổ chức quốc tế tài trợ. Có kế hoạch đồng bộ để ứng phó biến đổi khí hậu vùng ĐBSCL, lồng ghép nội dung biến đổi khí hậu vào các chương trình tái cơ cấu nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế - xã hội. Đàm phán với Chính phủ các nước thượng nguồn sông Mê Công về ảnh hưởng của việc xây đập thủy điện trên dòng chính sông Mê Công.

2. Các bộ, ngành Trung ương:

a) Bộ Kế hoạch và Đầu tư:

- Ưu tiên bố trí các nguồn vốn cho vùng thực hiện các dự án trọng điểm phục vụ nông nghiệp, nông thôn, nhằm phát huy hiệu quả mục tiêu tái cơ cấu nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, ứng phó biến đổi khí hậu.

- Phối hợp với Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ sơ kết 03 năm thực hiện Kết luận số 28-KL/TW ngày 14/8/2012 của Bộ Chính trị và Quyết định số 2270/QĐ-TTg ngày 21/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ.

- Phối hợp Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ và các bộ, ngành Trung ương liên quan triển khai thực hiện “Quy chế thí điểm liên kết phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2015 - 2020” sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

- Hoàn chỉnh, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành “Đề án thí điểm, hoàn thiện, nhân rộng mô hình hợp tác xã kiểu mới ở vùng ĐBSCL”.

b) Bộ Giáo dục và Đào tạo: tiếp tục phối hợp Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ thực hiện tốt chính sách đặc thù đào tạo nhân lực cho vùng, nhất là đối với các ngành thuộc lĩnh vực khoa học sức khỏe. Phối hợp với Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ đề xuất Thủ tướng Chính phủ xem xét, ban hành Quyết định về phát triển giáo dục đào tạo và dạy nghề vùng ĐBSCL giai đoạn 2016 - 2020 thay thế Quyết định số 1033/QĐ-TTg ngày 30/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề vùng ĐBSCL.

c) Bộ Lao động Thương binh và Xã hội: Nghiên cứu chính sách hỗ trợ phù hợp, bền vững hơn cho hộ nghèo vùng Tây Nam Bộ. Phối hợp với Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ tổ chức sơ kết, đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ.

d) Bộ Công thương: phối hợp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Ngoại giao lập kế hoạch, đề án hỗ trợ nông dân, doanh nghiệp trong vùng hội nhập kinh tế quốc tế.

e) Các địa phương trong vùng:

- Quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo để đẩy nhanh tốc độ tái cơ cấu nông nghiệp gắn với hội nhập kinh tế quốc tế; liên kết trong quy hoạch sản xuất, tiêu thụ nông, thủy sản; liên kết ứng phó biến đổi khí hậu, nước biển dâng và tác động từ thượng nguồn; có phương án quản lý, sử dụng nguồn vốn đầu tư hiệu quả.

- Phối hợp với Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, UBND tỉnh Hậu Giang và các bộ, ngành Trung ương có liên quan tổ chức thành công MDEC Hậu Giang năm 2016 với chủ đề “Đồng bằng sông Cửu Long - Chủ động hội nhập, phát triển bền vững”./.

BAN CHỈ ĐẠO TÂY NAM BỘ

 


[1] Nhờ chính sách thu mua tạm trữ lúa vụ Đông Xuân đã giúp nông dân tiêu thụ lúa thuận lợi. Có 116 thương nhân tham gia mua tạm trữ. Từ ngày 01/3/2015 đến hết ngày 15/4/2015, đã mua tạm trữ được 1.000.000 tấn quy gạo, đạt 100% kế hoạch, giá lúa tăng từ 100-200 đồng/kg.

[2] Tổ hợp tác phát triển mạnh ở tỉnh Cà Mau năm 2015 với 3.364 tổ tăng so với năm 2014 là 2.467 tổ; tỉnh Long An là 1.863 tổ, tăng so với năm 2014 là 491 tổ. Tổ hợp tác phát triển mạnh trong trồng trọt và thủy sản, Cà Mau hiện có 1.404 tổ trồng trọt và 1.730 tổ thủy sản, là tỉnh có số tổ hợp tác phát triển nhiều nhất.

[3] Có 466 trường trung học phổ thông, 57 trường đạt chuẩn quốc gia, chiếm tỷ lệ 12,23%; 1.468 trường trung học cơ sở, 384 trường đạt chuẩn quốc gia, chiếm tỷ lệ 26,15 %; 3.103 trường tiểu học, 1.013 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 32.93%; 1.921 trường mầm non, 349 trường đạt chuẩn quốc gia, chiếm 18,5% tổng số trường.

[4] Số trường phổ thông dân tộc nội trú đạt chuẩn Quốc gia: 08/30 trường, chiếm khoảng 27%, trong đó, trường đạt chuẩn cấp tỉnh 04 trường (tỉnh Hậu Giang, Kiên Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng); trường đạt chuẩn cấp huyện: 04 trường (tỉnh Sóc Trăng 02 trường, tỉnh Kiên Giang 02 trường); tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tại các trường phổ thông dân tộc nội trú trong các năm gần đây luôn đạt 100%. Giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là người dân tộc thiểu số là 9.910 người, trong đó có gần 50 người được đào tạo sau đại học.

[5] Kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2015); 125 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2015); ngày Thương binh liệt sĩ; Ngày cách mạng tháng Tám, quốc khánh Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; 75 năm ngày Khởi nghĩa Nam kỳ (23/11/1940 - 23/11/2015); 85 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam và ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc (18/11/1930 - 18/11/2015); 75 năm ngày Nam Kỳ khởi nghĩa (23/11/1940 - 23/11/2015)

 

Các bài viết cùng chuyên mục
Thứ hai, ngày 16/01/2017

- Đồng chí Sơn Minh Thắng, Nguyễn Đoàn Kết thăm, chúc Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017 các đồng chí cán bộ hưu tại Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương (thành phần và địa điểm thăm mừng theo Kế hoạch).

 - Đồng chí Trần Minh Thống thăm, chúc Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017 các đồng chí cán bộ hưu tại tỉnh Kiên Giang (thành phần và địa điểm thăm mừng theo Kế hoạch).

- Đồng chí Nguyễn Trung Hiếu, Trần Hữu Hiệp thăm, chúc Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017 các đồng chí cán bộ hưu tại tỉnh Đồng Tháp (thành phần và địa điểm thăm mừng theo Kế hoạch).

 - 7 giờ 30, lãnh đạo Vụ An ninh-Quốc phòng dự Hội nghị BCH Tỉnh ủy Đồng Tháp lần thứ 06, khóa X; điểm tại Hội trường Tỉnh ủy Đồng Tháp.

Thứ ba, ngày 17/01/2017

- Đồng chí Sơn Minh Thắng, Nguyễn Đoàn Kết thăm, chúc Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017 các đồng chí cán bộ hưu tại TP Cần Thơ (thành phần và địa điểm thăm mừng theo Kế hoạch).

- Đồng chí Nguyễn Quốc Việt làm việc tại cơ quan.

- Đồng chí Trần Minh Thống thăm, chúc Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017 các đồng chí cán bộ hưu tại tỉnh Sóc Trăng (thành phần và địa điểm thăm mừng theo Kế hoạch).

- 10 giờ 30, đồng chí Nguyễn Trung Hiếu, Trần Hữu Hiệp tiếp và làm việc với Đoàn công tác của tổ chức GIZ về chương trình thoát nước và chống ngập úng nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu-ĐBSCL, mời Vụ Kinh tế, Văn phòng Ban cùng dự; điểm tại phòng họp số 34, Văn phòng Ban.

 - 13 giờ 30, đồng chí Nguyễn Trung Hiếu, Trần Hữu Hiệp thăm, chúc Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017 các đồng chí cán bộ hưu tại thành phố Cần Thơ (thành phần và địa điểm thăm mừng theo Kế hoạch, đến hết ngày 18/01/2017).

- 7 giờ 30, đồng chí Trần Hữu Hiệp dự Hội thảo chuyên đề “Sử dụng nước ở đồng bằng sông Cửu Long: Hiện trạng & Định hướng”; điểm tại Hội trường B007-Khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ.

Thứ tư, ngày 18/01/2017

- Đồng chí Sơn Minh Thắng thăm, chúc Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017 các đồng chí cán bộ hưu tại TP Cần Thơ (thành phần và địa điểm thăm mừng theo Kế hoạch).

- Đồng chí Trần Minh Thống làm việc tại cơ quan.

- Đồng chí Lê Hùng Dũng, Võ Trọng Hữu thăm, chúc Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017 các đồng chí cán bộ hưu tại các tỉnh Trà Vinh và Bến Tre (thành phần và địa điểm thăm mừng theo Kế hoạch, đến hết ngày 19/01/2017).

 - 8 giờ, đồng chí Nguyễn Đoàn Kết dự Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác thông tin đối ngoại; tuyên truyền biển, đảo và phân giới, cắm mốc năm 2016; triển khai nhiệm vụ năm 2017”; điểm tại Hội trường Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, số 135, Nguyễn Phong Sắc, Cầu Giấy, Hà Nội.

 - 10 giờ 30, đồng chí Trần Hữu Hiệp tiếp và làm việc với nhóm chuyên gia của GIZ để thảo luận về thách thức và cơ hội trong việc nâng cao tính chống chịu với biến đổi khí hậu ở vùng ĐBSCL, mời Vụ Kinh tế, Văn phòng Ban cùng dự; điểm tại phòng họp số 34, Văn phòng Ban.

Thứ năm, ngày 19/01/2017

- 8 giờ, họp kiểm điểm trong Ban Thường vụ Đảng ủy Cơ quan Thường trực, mời các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng ủy dự; điểm tại phòng họp số 34, Văn phòng Ban.

- 14 giờ, lãnh đạo Ban dự họp triển khai các nghị quyết của Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, mời tất cả các đảng viên cùng dự; điểm tại Hội trường Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ.

- Trực cơ quan tiếp khách đến chúc Tết: đồng chí Trần Minh Thống, đại diện lãnh đạo các vụ, Văn phòng Ban.

 - Đồng chí Nguyễn Trung Hiếu dự Hội nghị tổng kết năm 2016 của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Sóc Trăng và thăm gia đình chính sách, nguyên cán bộ lãnh đạo tỉnh Sóc Trăng (đến hết ngày 20/01/2017).

Thứ sáu, ngày 20/01/2017

- 7 giờ 30, họp giao ban tuần; điểm tại phòng họp số 34, Văn phòng Ban.

- 8 giờ 30, các đồng chí phó trưởng ban, ủy viên chuyên trách họp kiểm điểm tập thể lãnh đạo Ban; điểm tại phòng họp số 34, Văn phòng Ban.

 - 6 giờ 30, đồng chí Lê Hùng Dũng dự Lễ Khai mạc Tuần Văn hóa, Thể thao và Du lịch mừng Đảng quang vinh-mừng xuân Đinh Dậu năm 2017; điểm tại Công viên Lưu Hữu Phước.

 - 8 giờ, lãnh đạo Vụ Kinh tế dự tọa đàm chuyên đề “Định hướng sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2017-2020”; điểm tại Hội trường BGH, Nhà Điều hành Trường Đại học Cần Thơ.

số người truy cậpsố người truy cậpsố người truy cậpsố người truy cậpsố người truy cậpsố người truy cậpsố người truy cập
số người truy cậpHôm nay369
số người truy cậpHôm qua458
số người truy cậpTuần này827
số người truy cậpTháng này7231
số người truy cậpTất cả488520